Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án + Ma trận)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án + Ma trận)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thang_ngu_van_11_lan_1_nam_hoc_2024_2025_truong_thpt.doc
Nội dung tài liệu: Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án + Ma trận)
- SỞ GD & ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THÁNG LẦN 1 NĂM HỌC 2024 – 2025 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Môn thi: Ngữ văn 11 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) (Đề gồm có 02 trang) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích: Những buổi sớm mai của thời thơ ấu, tôi thường bị đánh thức khi trời còn tờ mờ sương, bởi tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gàu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng. Rồi những âm thanh đến gần hơn. Ngay dưới bếp thôi. Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách. Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách. Và tôi trở mình trong chăn mơ màng ngủ lại giữa chập chùng những tiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ. Chuyện lúa gạo, chuyện học hành, chuyện chiếc xe bò đang bị hỏng cái bánh xe, chuyện một người quen ở xa mới về Thảng hoặc pha những tiếng cười rất nhẹ. Đó chính là âm thanh mà tôi yêu thích nhất. Tiếng trò chuyện rì rầm ấy, vào buổi ban mai. Cái âm thanh thủ thỉ, vừa xa vừa gần, tin cậy và tràn đầy yêu thương. Nó khiến tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên vô hạn. [ ] Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chúng ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm. Tiếng nói con người dùng để làm gì nếu không phải để thổ lộ, để giãi bày, để xoa dịu. Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị ,với em, với bạn bè Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “ ơi” dịu dàng. Một tiếng người thực sự ân cần, yêu thương, quan tâm, gần gũi Và chắc chắn, không phải là tiếng chiêm bao. (Trích Tiếng người hay là tiếng chiêm bao?, Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn NXB Hội Nhà văn, 2017, tr 129,130,131) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Xác định âm thanh mà người viết trong đoạn trích yêu thích nhất. Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp lặp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn sau: “Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chúng ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm.” Câu 4. Nhận xét về cách kết hợp yếu tố nghị luận với yếu tố biểu cảm trong đoạn trích. Câu 5. Từ quan điểm của tác giả trong đoạn trích, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về một giải pháp để người trẻ giảm nghiện mạng xã hội (trình bày khoảng 5-7 dòng). 1
- II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề giao tiếp trong thời đại công nghệ. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau: (...) Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em Biết khao khát những điều anh mơ ước Biết xúc động qua nhiều nhận thức Biết yêu anh và biết được anh yêu Mùa thu nay sao bão giông nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh Em lo âu trước xa tắp đường mình Trái tim đập những điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi. (Trích Tự hát – Xuân Quỳnh, Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984) ----------- Hết ---------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên thí sinh: .............................................. Số báo danh: .......................... 2
- MA TRẬN ĐỀ THI THÁNG LẦN I, NĂM HỌC 2024-2025 Môn thi: Ngữ văn lớp 11 TT Năng Mạch nội Số Cấp độ tư duy Tổng lực dung câu Nhận biết Thông hiểu Vận dụng % Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ câu câu câu I Năng Văn bản nghị lực luận (ngoài đọc SGK) 5 2 10% 2 20% 1 20% 40% II Năng Viết đoạn văn lực nghị luận xã 1 5% 5% 10% 20% viết hội Viết bài văn nghị luận về một đoạn trích 1 7,5% 10% 22,5% 40% thơ. Tỉ lệ 22,5% 35% 42,5% 100% Tổng 7 100% 3
- SỞ GD & ĐT BẮC GIANG HƯỚNG DẪN CHẤM THI THÁNG LẦN 1 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN NĂM HỌC 2024 – 2025 Môn thi: Ngữ văn 11 (HDC gồm có 03 trang) Phần Câu Nội dung Điểm ĐỌC HIỂU 4,0 Người viết đưa ra quan điểm và lập luận để trao đổi về một vấn đề là dấu hiệu để xác định phương thức biểu đạt chính nghị luận của đoạn trích. 0,5 1 - HS chỉ ra được dấu hiệu: 0,25 điểm. - HS nêu được phương thức biểu đạt chính nghị luận: 0,25 điểm. Âm thanh mà người viết trong đoạn trích yêu thích nhất là những tiếng 0,5 2 rì rầm trò chuyện của ba mẹ (tiếng người). - Biện pháp lặp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn: Có phải chúng 0,25 ta... - Hiệu quả: + Tạo nhịp điệu mạnh mẽ, hùng hồn, tác động mạnh đến nhận thức 0,25 3 người đọc, tạo sự liên kết cho các câu văn. + Nhấn mạnh thực trạng trong thời đại công nghệ, con người đang ngày 0,25 càng ít giao tiếp trực tiếp bằng lời nói, điều đó không tạo nên những hiệu quả giao tiếp thực sự. + Thể hiện sự trăn trở, suy tư của người viết. I 0,25 Trong đoạn trích, tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố nghị luận với yếu tố biểu cảm: + Yếu tố nghị luận: Tác giả đưa ra quan điểm với lập luận chặt chẽ: luận 0,25 điểm được làm rõ bằng các lý lẽ, dẫn chứng; kết hợp các thao tác lập 4 luận... + Yếu tố biểu cảm: Bộc lộ trực tiếp cảm xúc (tôi thấy lòng hạnh phúc và 0,25 bình yên), câu hỏi tu từ, hình ảnh so sánh... --> Đoạn văn nghị luận vừa giàu sức thuyết phục vừa giàu hình ảnh, cảm 0,5 xúc, hấp dẫn, lôi cuốn. - Quan điểm của tác giả trong đoạn trích: sự thiếu vắng và ý nghĩa của 0,25 việc giao tiếp bằng tiếng nói con người... - Học sinh trình bày một giải pháp để người trẻ giảm nghiện mạng xã 0,75 5 hội. Có thể theo hướng: + Đặt ra nguyên tắc giới hạn thời gian sử dụng mạng. + Hoặc: lựa chọn mạng xã hội để sử dụng. + Hoặc: ưu tiên những hình thức giải trí khác... VIẾT 6,0 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề 2,0 1 giao tiếp trong thời đại công nghệ. a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn 0,25 Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của II đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Giao tiếp trong thời đại công 0,25 nghệ. c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu 1,0 4
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau: - Giải thích. - Bàn luận: + Thời đại công nghệ đang làm thay đổi cách thức giao tiếp của con người, nhất là giới trẻ. Giao tiếp gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật, máy móc hiện đại, các ứng dụng, mạng xã hội...đang ngày càng chiếm ưu thế. + Sự tiện ích của công nghệ giúp con người giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, dễ dàng kết nối, chia sẻ, tiết kiệm thời gian...Song, việc lạm dụng giao tiếp trực tuyến khiến con người giảm nhu cầu giao tiếp trực tiếp, các mối quan hệ trở nên xa cách, tình trạng sống ảo, nghiện mạng xã hội, lãng quên mục tiêu ý nghĩa cuộc sống đích thực, xuất hiện nhiều biểu hiện lệch chuẩn, ứng xử thiếu văn hóa... + Ý nghĩa của giao tiếp trực tiếp bằng ngôn ngữ: Xây dựng các mối quan hệ, làm chủ bản thân, tự tin, hòa nhập,... + Công nghệ dù hiện đại và tinh vi đến mấy cũng không thể thay thế tâm hồn con người. Khi giao tiếp trực tuyến, chúng ta cần có ý thức giữ gìn vẻ đẹp văn hóa ứng xử phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Chủ động trong việc sử dụng các thiết bị công nghệ. Tạo thói quen giao tiếp trực tiếp, trau dồi năng lực ngôn ngữ,... - Bài học. d. Diễn đạt 0,25 Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. đ. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. 2 Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá nội 4,0 dung và nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ Tự hát (Xuân Quỳnh). a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận 0,25 - Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nội dung và nghệ thuật của đoạn 0,5 trích trong bài thơ Tự hát (Xuân Quỳnh). c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu: 2,5 - Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: - Khổ thơ 1: Trái tim yêu chân thành, thấu cảm, sẻ chia; luôn hết mình vì người mình yêu; khao khát một tình yêu đích thực. 0,5 + Trái tim là hình ảnh ẩn dụ cho sự sống, tình yêu. “Trở về đúng nghĩa” là trở về với tình yêu chân thành, không giả dối. Những từ ngữ cho thấy trạng thái, cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em” khi yêu: Khao khát, xúc động, yêu. + Tình yêu đích thực luôn cần sự chia sẻ thấu hiểu, trân trọng từ hai phía, sự cảm thông vị tha giàu đức hy sinh, phải biết thể hiện tình yêu và đón nhận tình yêu (Điệp từ “biết”) - Khổ thơ 2,3: Một trái tim yêu tinh tế, nhạy cảm, luôn lo âu, phấp phỏng, luôn dự cảm những đổi thay trong tình yêu. 1,0 5
- + Hành trình tìm đến tình yêu thật khó khăn: Hình ảnh ẩn dụ bão giông-Những sóng gió trong cuộc đời, trong tình yêu; Hình ảnh “Những cửa sổ con tàu chẳng đóng”- những điều kiện bất lợi luôn thường trực. Nhà thơ so sánh mình với một hành khách đi tàu, con tàu sẽ tới ga cuối cùng có tên là “Hạnh Phúc”. “Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm”: giữa một cánh đồng hoang trong cái thời điểm “tối sẫm” càng làm cho người khách đi tàu thêm lo lắng, tình yêu ấy thật mong manh. “Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh”: Anh là một thế giới bí hiểm khôn lường. Câu thơ hiện lên sự cô đơn lạc lõng của em, lòng em luôn mang nỗi lo lắng liệu mình có đủ sức mạnh để vượt qua những thử thách ấy hay không? + Cuộc đời thì dài, những lo toan không khi nào hết. Làm thế nào để giải quyết được hết những khó khăn đó? Điệp cấu trúc “Trái tim đập...”: một sự thúc giục đến cồn cào từ bên trong để vươn tới những điều nhân vật em mong muốn khi yêu. Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác để diễn tả những băn khoăn, trăn trở trong lòng nhân vật em. Cái đói cũng là cái thiếu, là cái mình cần.“Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn” phản ánh tâm trạng hoang mang, lo lắng, cô đơn đến vô cùng. Lo lắng chứ không lo sợ, em vẫn tìm cách vượt lên, bởi em cần có hạnh phúc, em cần có anh. - Khổ thơ 4: Khẳng định trái tim yêu mãnh liệt, luôn sống hết mình, cháy hết mình, hi sinh hết mình cho tình yêu. + Điệp khúc: Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em.Trái tim em giống như 0,5 bao con người khác-bằng máu thịt, sinh tồn theo quy luật của cuộc đời. Nhưng trái tim em còn khác bởi mang trở một tình yêu say đắm, dâng hiến, một tình yêu son sắc thuỷ chung, đã vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian. - Đánh giá: 0,5 + Với thể thơ tự do, các biện pháp tu từ như điệp cấu trúc ngữ pháp, ẩn dụ, so sánh,...bài thơ thể hiện vẻ đẹp của trái tim yêu bao dung, nhân hậu, luôn thấu cảm, sẻ chia, thủy chung, sống hết mình cho tình yêu. Cấu tứ của bài thơ vận động theo bước chân của người đi tìm kiếm chân lý, tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc. + Bài thơ triết lý mà không khô khan, mạnh mẽ mà không xơ cứng bởi cảm xúc dồi dào, đặc biệt là chất nữ tính. Bài thơ thể hiện vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh: tiếng lòng của người phụ nữ nhiều trắc ẩn vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành đằm thắm, luôn da diết khát khao hạnh phúc đời thường... * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Diễn đạt: Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên 0,25 kết câu trong đoạn văn. đ. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 10,0 --------------------- Hết ------------------------- 6

