Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 4) - Năm học 2014-2015 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 4) - Năm học 2014-2015 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thang_ngu_van_11_lan_4_nam_hoc_2014_2015_truong_thpt.doc
Nội dung tài liệu: Đề thi tháng Ngữ văn 11 (Lần 4) - Năm học 2014-2015 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)
- SỞ GD&ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THÁNG LẦN 4 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Năm học: 2014 - 2015 ĐỀ CHÍNH THỨC Môn: NGỮ VĂN LỚP 11 Thời gian làm bài: 120 phút (Đề thi gồm có 01 trang) (Không kể thời gian phát đề) Câu 1 (4,0 điểm) "Ồ, cuộc đời cũng như hơi thở vậy thôi. Ta không thể hít một hơi dài quá khả năng của mình. Nhưng ta có thể hít sâu hết khả năng của mình trong từng hơi thở. Tôi vẫn tin rằng nếu bạn thực sự biết hưởng thụ, bạn sẽ luôn thấy mình đã sống rất sâu. Nếu biết trăm năm là hữu hạn, cớ gì ta không sống thật sâu ...?". (Phạm Lữ Ân – Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Trang 140) Đọc đoạn văn trên và thực hiện các yêu cầu sau: 1. Theo em, quan niệm sống thật sâu trong đoạn văn trên gần gũi với quan niệm sống nào sau đây? A. Để làm ngọn lửa con, Nếu tự thiêu mình trong nước mắt. (Nguyễn Ngọc Kí) B. Người vá trời lấp bể Kẻ đắp lũy xây thành Ta chỉ là chiếc lá Việc của mình là xanh. (Nguyễn Sĩ Đại) C. Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn, Sống toàn thân và thức nhọn giác quan. (Xuân Diệu) D. Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình. (Tố Hữu) 2. Sống thật sâu là quan niệm sống như thế nào? 3. Viết một đoạn văn (khoảng 300 từ) trình bày quan điểm của em trước quan niệm sống trên? Câu 2 (6,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Mênh mông không một chuyến đò ngang. Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Không cầu gợi chút niềm thân mật, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. (Ngữ văn 11, Tập 2, NXBGDVN 2014) ----------- Hết ---------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên thí sinh:.................................................... Số báo danh: .....................
- HƯỚNG DẪN CHẤM THI THÁNG LẦN 4 MÔN: NGỮ VĂN LỚP 11 – NĂM HỌC: 2014-2015 (Hướng dẫn chấm gồm có 02 trang) CÂU YÊU CẦU NỘI DUNG CẦN ĐẠT ĐIỂM 1 "Ồ, cuộc đời cũng như hơi thở vậy thôi.....Nếu biết trăm năm là hữu 4,0 hạn, cớ gì ta không sống thật sâu ...?". 1. Đáp án C. 0,5 2. Giải thích quan niệm “Sống thật sâu”: 1,0 - Là lối sống của những con người có ý thức sâu sắc về giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc sống: một cuộc sống dài có thể không đủ tốt đẹp, mà ngược lại, với những con người“sống thật sâu”- sống hết mình, tận dụng mọi phút giây của cuộc đời để tận hiến cho đời và tận hưởng cuộc đời ở bề sâu của nó - cuộc sống như thế thật sự có ý nghĩa và có thể đã đủ dài. - Sống thật sâu - sống có mục đích có lý tưởng > < Sống hời hợt, “sống gấp”, “sống vội”, hưởng thụ tầm thường. 3. Trình bày quan điểm của cá nhân trước quan niệm sống trên: 2.5 - Câu nói trên thể hiện một quan niệm sống đúng đắn và có ý nghĩa sâu sắc: + Ý nghĩa của lối sống trên: Đời người hữu hạn, con người không thể sống thật lâu vì vậy cần biết cách sống thật sâu, sống có ý nghĩa trong từng khoảnh khắc. Chỉ như vậy con người mới có thể sống được nhiều cuộc đời trong một cuộc đời, và không phải ân hận rằng mình đã 1.0 sống hoài sống phí khi tuổi trẻ qua đi và cuộc đời không còn nữa. + Để có thể sống thật sâu: Con người cần xác định được mục đích, lí tưởng sống.Từ đó biết cống hiến cho đời, biết hưởng thụ và trân trọng những vẻ đẹp của cuộc đời, biết quý từng phút giây mà mình được sống (Dẫn chứng) - Mở rộng, nâng cao vấn đề: + Đề cao những con người có lối sống đẹp, biết tận hưởng và tận hiến làm cho cuộc đời của mình có ý nghĩa. (Dẫn chứng) 1.0 + Câu nói trên có ý nghĩa cảnh tỉnh những người chưa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về giá trị thực sự của cuộc đời mình. Đồng thời phê phán những lối sống hời hợt, chỉ biết hưởng thụ tầm thường. (Dẫn chứng) - Rút ra bài học, liên hệ bản thân. 0.5 2 Cảm nhận của em về đoạn thơ 2 và 3 trong bài Tràng giang của Huy 6,0 Cận 1. Về kĩ năng - Biết cách làm bài nghị luận văn học. - Văn viết có cảm xúc; sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, diễn đạt sáng rõ; lí lẽ thuyết phục. 2. Về nội dung kiến thức a. Mở bài: 0,5
- - Giới thiệu khái quát về nhà thơ Huy Cận và bài thơ Tràng giang. - Nêu được vị trí và nội dung của hai đoạn thơ. b. Thân bài: * Cảm nhận về hai đoạn thơ: - Đoạn 2: + Cảnh: Có thêm đất với sự xuất hiện của: "cồn cát", "cồn cát" nhỏ, cây cỏ lại "lơ thơ", tiêu điều, có "gió" nhưng là gió "đìu hiu". Thêm người với "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều", mơ hồ như có như không. Không gian ba chiều: có "nắng xuống", "trời lên", "sâu chót vót". 2,5 + Tình: Bao trùm đoạn thơ là nỗi buồn, nỗi cô đơn thấm thía khi nhân vật trữ tình chứng kiến cảnh chợ tàn và ngày tàn. Nỗi buồn không chỉ thấm vào thời gian mà còn lan tỏa trong không gian. + Khai thác rõ các thủ pháp nghệ thuật trong đoạn thơ: sự kết hợp âm thanh, màu sắc, từ láy, các từ "dài", "rộng” vv... - Đoạn 3: + Cảnh có màu sắc tươi tắn hơn, đông đúc hơn nhưng không đông vui mà càng trống vắng, càng buồn, con người càng cảm thấy cô đơn. Hơn nữa, hình ảnh những "cánh bèo" trôi dạt trên sông biểu trưng cho những thân phận nhỏ bé, những kiếp phù sinh trôi nổi trong cuộc đời. 2,5 + Hai lần phủ định: "không đò", "không cầu" -> Nơi đây thiếu hơi ấm của sự sống con người, thiếu mối giao lưu giữa người với người. + Phép đảo ngữ "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng" khiến người đọc có cảm giác mỗi sự vật là một thế giới riêng, ở bên nhau nhưng không có mối quan hệ nào. Tất cả là sự chia lìa, trống trải từ cảnh đến tình. Qua đây nhà thơ đã kín đáo bộc lộ tình yêu quê hương đất nước. c. Kết bài: 0,5 - Đánh giá khái quát nội dung, nghệ thuật của hai đoạn thơ cùng tài năng của tác giả. - Cảm xúc cá nhân. *Lưu ý: 1. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng, định tính chứ không định lượng. Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng. Trừ câu trắc nghiệm, đề ra theo hướng mở nên người chấm cần vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, khuyến khích những bài viết bày tỏ được quan điểm cá nhân, sáng tạo, lập luận chặt chẽ. Tùy mức độ sai phạm về nội dung và hình thức mà trừ điểm từng phần cho phù hợp. 2. Không cho điểm cao với những bài chỉ nêu ý một cách chung chung hoặc sáo rỗng. 3. Việc chi tiết hóa điểm số các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi phần và được thống nhất trong Giám khảo chấm. 4. Làm tròn điểm số sau khi cộng điểm toàn bài (lẻ 0.25 làm tròn thành 0.5; lẻ 0.75 làm tròn thành 1.0 điểm). -------- Hết ---------

