Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1

doc 19 trang Gia Hân 10/01/2026 150
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docmot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_boi_duong_hoc_sinh_gioi.doc
  • docBìa SKKN_Phạm Hùng Tráng.doc

Nội dung tài liệu: Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: tháng 9 năm 2019 3. Các thông tin cần bảo mật: Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường trong những năm trước: Thứ nhất, về thời gian bồi dưỡng: Thời gian bồi dưỡng cho đội tuyển còn ít, chỉ tập trung giảng dạy trong thời gian các em học lớp 12, trong khi đó lượng kiến thức rất rộng, nên các em không có đử thời gian để học và thời gian để ôn luyện các kĩ năng, thời gian để làm các dạng đề. Thứ hai, về thành lập đội tuyển: Việc thành lập đội tuyển đối với môn Lịch sử gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân một phần vì nhà trường từ nhiều năm nay không có học sinh học khối C (Văn – Sử – Địa) nên không có nguồn cho đội tuyển. Phần khác là do tâm lý cả học sinh và phụ huynh đều cho rằng đây là môn phụ nên không có ý thức đầu tư nhiều về thời gian. Thực tế nhiều năm trường đã phải thành lập đội tuyển Lịch sử với thành phần chủ yếu là học sinh theo khối A (Toán – Lý – Hóa) và khối D (Văn – Toán – Ngoại ngữ). Vì vậy, ngay cả khi đã có đội tuyển, bản thân các em cũng chưa tập trung, chưa quyết tâm cao cho học đội tuyển, vẫn mang tâm lý lo cho môn học để thi vào đại học hơn. Mặt khác, phụ huynh cũng không muốn cho con tham gia thi học sinh giỏi môn Lịch sử, sợ ảnh hưởng đến việc học các môn thi vào đại học của con mình. Thứ ba, về phương pháp bồi dưỡng: Trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển, giáo viên còn thiên nhiều về cung cấp kiến thức mà chưa khai thác và phát huy khả
  2. 2 năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu; bồi dưỡng các kĩ năng nhận dạng, xứ lý các dạng câu hỏi, bài tập; việc kiểm tra đối với học sinh chưa thường xuyên; chưa tổ chức cho học sinh tự kiểm tra kiến thức, kĩ năng của nhau Từ thực tế đó nên kết quả thi của đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử trong những năm vừa qua không cao, có năm không được giải. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mỗi nhà trường cũng như của ngành giáo dục và đào tạo. Đây là một hoạt động dạy học mang tính đặc thù cao, người học là học sinh giỏi, có năng khiếu môn học, người dạy là những giáo viên có trình độ tay nghề cao, giàu kinh nghiệm trong công tác dạy học. Trong trường trung học phổ thông, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi các môn khoa học xã hội như thế nào để đạt hiệu quả cao là vấn đề không đơn giản. Thực tế ở các trường trung học phổ thông cho thấy, hiện nay nhiều học sinh không thích học các môn khoa học xã hội, ít quan tâm học các bộ môn này, có em còn từ chối vào đội tuyển học sinh giỏi các môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân. Lý do chủ yếu đến từ các môn học trên có ít sự lựa chọn khối thi, ngành học đại học và sau khi học song đại học thì cơ hội việc làm và thu nhập cũng còn nhiều khó khăn. Trước thực tế kết quả thi học sinh giỏi môn Lịch sử của trường THPT Lạng Giang số 1 chưa cao như hiện nay đòi hỏi giáo viên cần định hướng cho các em có nhận thức đúng về vai trò của các môn khoa học xã hội nói chung và môn Lịch sử nói riêng trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Đó là một công cụ để tư duy, giúp các em học tốt các môn học khác. Đó còn là phương tiện giúp các em đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, để mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình. Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn trong nhà trường, vừa thiết thực hưởng ứng lời dạy của Bác Hồ: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mũi nhọn của mỗi nhà trường được diễn ra
  3. 3 thường xuyên qua các năm học. Với những khó khăn, vướng mắc đã được chỉ ra ở trên, tôi lựa chọn thực hiện sáng kiến “Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1”. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Nội dung của sáng kiến là những giải pháp để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường THPT Lạng Giang số 1. Những giải pháp đưa ra trong sáng kiến là quá trình đúc rút kinh nghiệm của bản thân và đồng nghiệp trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi qua các năm, có những điểm mới, điểm sáng tạo trong giải pháp và quá trình thực hiện để nâng cao hiệu quả trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Nhiều giải pháp được thực hiện như: Việc thành lập đội tuyển và cách thức chọn học sinh giỏi vào đội; phân công chuyên môn (Đối với những lớp có học sinh đội tuyển, phân công giảng dạy chính khóa phải là giáo viên phụ trách đội tuyển hoặc giáo viên có kinh nghiệm, có chuyên môn giỏi, chịu trách nhiệm trong suốt 3 năm để liên tục quá trình bồi dưỡng cho các em cả về kiến thức và kỹ năng); rèn các kỹ năng cho học sinh: kỹ năng tìm hiểu tài liệu, kỹ năng làm bài trắc nghiệm, kỹ năng đọc đề, cách để chọn được từ khóa trong câu hỏi, cách để loại trừ phương án trả lời sai ... Những giải pháp mà tôi áp dụng đã khắc phục được những tồn tại trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử của trường THPT Lạng Giang số 1, giúp lựa chọn đúng và phát huy tốt năng lực, động cơ, quyết tâm của học sinh trong quá trình học và từng bước mang lại hiệu quả. Trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2020 – 2021, ba học sinh trong đội tuyển tham dự kỳ thi của trường đều đạt được giải cao: 03 giải Nhì. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến * Giải pháp 1: - Tên giải pháp: Cách thức lựa chọn học sinh thành lập đội tuyển học sinh giỏi. - Nội dung: Thời gian tiến hành thành lập đội tuyển, những cơ sở, cách thức chọn học sinh để thành lập đội tuyển học sinh giỏi.
  4. 4 - Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: Về thời gian thành lập đội tuyển: Để thành lập đội tuyển dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 12 môn Lịch sử, tôi căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, của tổ chuyên môn để lựa chọn học sinh. Ngay từ khi các em học sinh mới bước vào lớp 10, tôi đã tìm hiểu và thu thập thông tin từ các trường trung học cơ sở, qua đó phát hiện để lựa chọn những học sinh đã từng đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh năm lớp 9 hoặc đã từng học câu lạc bộ học sinh giỏi môn Lịch sử. Trên cơ sở đó phân công chuyên môn lựa chọn giáo viên có nhiều kinh nghiệm để giảng dạy những lớp có những học sinh đạt giải trong suốt quá trình các em học từ năm lớp 10 đến lớp 12. Trong thời gian đó lựa chọn đội tuyển từ 5 đến 7 học sinh tiến hành bồi dưỡng, đồng thời cũng có sự sàng lọc, bổ sung để các em học sinh không ngừng phấn đấu phát huy hết khả năng của mình. Xuất phát từ thực tế công tác tuyển sinh của các trường đại học năm 2020 cho thấy rất nhiều trường đại học đã đưa ra tiêu chí tuyển thắng đối với các trường hợp học sinh đạt các điều kiện: học lực xếp loại giỏi trong thời gian học phổ thông và đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh. Trong năm học 2019 – 2020, trường THPT Lạng Giang số 1 đạt kết quả cao trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, trong đó có hai học sinh: Nguyễn Ái Lâm đạt giải Nhì môn Ngữ Văn, Đỗ Đức Phượng đạt giải Nhì môn Địa lý. Hai em đã được tuyển thẳng vào lớp chất lượng cao của trường Đại học Ngoại ngữ. Từ kết quả trên tôi đã chia sẻ, động viên các em học sinh có năng lực nhận thức và tư duy sáng tạo, có nguyện vọng được tuyển thẳng trong xét tuyển đại học tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi. Chính điều này đã trở thành một trong những động lực để nhiều em đăng ký tham gia vào đội tuyển, chất lượng học sinh của đội được nâng lên rõ rệt. Bảng số liệu chất lượng học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi Năm học 2019 – 2020. STT Họ và tên Lớp Xếp loại Ghi chú học lực 1 Học đội tuyển cấp Nguyễn Thị Hồng Nhung 12A14 Giỏi 2 chưa thi cấp tỉnh
  5. 5 2 Nguyễn Thị Trang 12A11 Giỏi Chưa thi cấp tỉnh 3 Nguyễn Hoài Ngọc 12A10 Khá Chưa thi cấp tỉnh 4 Học đội tuyển cấp Nguyễn Thị Nhu 12A14 Khá 2 chưa thi cấp tỉnh 5 Nguyễn Thị Hoa Phượng 12A8 Khá Chưa thi cấp tỉnh 6 Trịnh Hương Mơ 12A9 Khá Chưa thi cấp tỉnh Kết quả: 3 học sinh đi thi cấp tỉnh đều được giải: 2 giải ba, 01 giải khuyến khích Bảng số liệu chất lượng học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi Năm học 2020 – 2021. STT Họ và tên Lớp Xếp loại Ghi chú học lực 1 Nguyễn Anh Tuấn 12A11 Giỏi Chưa thi cấp tỉnh 2 Lê Minh Hiếu 12A11 Giỏi Chưa thi cấp tỉnh 3 Tô Ánh Ngọc 12A11 Giỏi Chưa thi cấp tỉnh 4 Trịnh Quang Thanh 12A11 Giỏi Chưa thi cấp tỉnh 5 Vũ Minh Hiếu 12A14 Khá Chưa thi cấp tỉnh 6 Nguyễn Thị Vân Anh 12A14 Khá Giải Khuyến khích cấp tỉnh năm lớp 9 Thực hiện giải pháp này đã mang lại hiệu quả cho công tác bồi dưỡng. Bởi vì tôi đã lựa chọn được những học sinh vừa có nền tảng kiến thức vững chắc vì đã nắm được phương pháp học tập bộ môn, vừa chọn được những học sinh có niềm đam mê, hứng thú với môn Lịch sử, những học sinh có động lực, có quyết tâm cao, nhiệt huyết và tính chiến đấu. Chính những yếu tố này đã tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, vì sự tiến bộ chung của toàn đội tuyển và ba học sinh được lựa chọn đi thi tỉnh đều được giải cao: 03 giải Nhì. Trong ba học sinh đạt giải Nhì có một học sinh: Nguyễn Anh Tuấn đến thời điểm này đã có đủ điều kiện xét tuyển thẳng vào đại học: Học lực giỏi năm lớp 10,11, học kì 1 năm lớp 12. Nhiệm vụ của em bây giờ là đạt xếp loại học lực giỏi của học kì 2 năm lớp 12 thì sẽ hội tụ đủ
  6. 6 điều kiện xét tuyển thẳng trong kỳ xét tuển đại học năm 2021. Em có nguyện vọng đăng ký xét tuyển vào trường đại học Ngoại ngữ. Như vậy mục tiêu của học sinh đã đạt được bước đầu. * Giải pháp 2: - Tên giải pháp: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng - Nội dung: Xây dựng chi tiết, đầy đủ kế hoạch bồi dưỡng học sinh từ kiến thức, kỹ năng làm bài, tự học, khả năng giải quyết bài tập, câu hỏi. Sau khi thành lập được đội tuyển học sinh giỏi, giáo viên tiến hành lập kế hoạch tự bồi dưỡng dựa trên chương trình nội dung kiến thức của cấp học, lớp học. Đặc biệt là căn cứ vào công văn hướng dẫn tổ chức thi học sinh giỏi hàng năm của Phòng Khảo thí và kiểm định chất lượng của Sở để xác định giới hạn kiến thức trong chương trình bồi dưỡng. Kế hoạch cần cụ thể, chi tiết, vừa rộng vừa sâu đảm bảo khoa học hợp lí đáp ứng khả năng vượt trội của học sinh giỏi. Chính những yếu tố này sẽ giúp cho việc thực hiện kế hoạch càng hiệu quả tránh được tình trạng thích gì dạy nấy theo cảm tính của giáo viên. Kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi bao gồm việc xây dựng kế hoạch về thời gian, nội dung, kiến thức cần cung cấp, hướng dẫn tự học và kĩ năng cho học sinh, trong đó rèn luyện kĩ năng làm bài là một trong những khâu quan trọng nhất của kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. Vì vậy học sinh càng được thực hành nhiều càng tốt. Ngoài số tiết bồi dưỡng trên lớp, giáo viên cần có kế hoạch chi tiết hướng dẫn học sinh tự đọc, tự học ở nhà để bổ sung thêm kiến thức. Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi biên soạn nội dung, chương trình bồi dưỡng phù hợp, các biện pháp cụ thể mang tính khả thi, điều kiện, phương tiện phục vụ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, mục tiêu phấn đấu trong từng giai đoạn. Với giải pháp này học sinh được bồi dưỡng liên tục, liền mạch các nội dung kiến thức, hình thành và dần thuần thục được các kĩ năng về tự học, làm bài, tự xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân, phát huy tính tự chủ, linh hoạt trong quá trình thực hiện của học sinh. * Giải pháp 3: - Tên giải pháp: Một số giải pháp trong quá trình bồi dưỡng đội tuyển.
  7. 7 - Nội dung: Trang bị cho học sinh kiến thức bộ môn, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu qua sách vở, các App bài tập lịch sử, các kỹ năng làm bài trắc nghiệm, tự luận, nhận biết các dạng đề thi, câu hỏi vận dụng. Học giỏi môn Lịch sử không phải là học thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà điều quan trọng là hiểu vấn đề, nắm chắc vấn đề thì khi làm bài sẽ đạt kết quả cao. Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, đòi hỏi người dạy ngoài việc bổ sung kiến thức còn phải tăng cường khả năng thực hành cho học sinh bằng nhiều cách khác nhau như trả lời trực tiếp hoặc làm bài, đưa ra nhiều dạng câu hỏi, đề thi để học sinh làm quen và biết cách vận dụng kiến thức đó vào đề thi cụ thể. Đồng thời tiến hành nhiều biện pháp sau: Thành lập đội tuyển và bồi dưỡng từ năm học lớp 11, tham gia thi học sinh giỏi cụm do nhà trường kết hợp với các trường THPT Lạng Giang số 2, Lạng Giang số 3 tổ chức, tham gia thi thử các tháng do nhà trường tổ chức từ tháng 9 – 2020 đến đầu tháng 3 – 2021. Bước vào đầu năm học lớp 12, giáo viên tiếp tục bồi dưỡng học sinh theo kế hoạch. Trong các tiết lên lớp, giáo viên chú ý bồi dưỡng ngay trên lớp đối với các đối tượng này ( kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy lý luận ) Trong các tiết dạy bồi dưỡng, giáo viên tiếp tục cung cấp kiến thức, rèn luyện các kỹ năng Tổ chức cho học sinh thi thử theo cấu trúc đề trong những năm vừa qua, đồng thời tham gia thi học sinh giỏi các tháng do nhà trường tổ chức. Yêu cầu học sinh làm bài nghiêm túc. Chấm và sửa bài thi thử, công khai điểm số, nhận xét và đánh giá năng lực từng đối tượng học sinh Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thêm trong sách giáo khoa, sách tham khảo, các add bài tập tải về điện thoại( thực tế có rất nhiều câu hỏi hay, đòi hỏi tư duy cao mới có thể hiểu và làm được) giải quyết tất cả các câu hỏi, bài tập. Rèn luyện kỹ năng phân tích đề bài, kỹ năng làm bài, chữ viết, chính tả Sau đây là một số giải pháp của bản thân đã áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT Lạng Giang số 1 trong năm học 2019 – 2020, tiếp tục được bổ sung, điều chỉnh trong năm học 2020 - 2021.
  8. 8 Thứ nhất: Rèn kỹ năng tự học. Đối với học sinh giỏi nói chung, học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng việc hướng dẫn học sinh giỏi tự học là công việc đòi hỏi giáo viên phải làm thường xuyên nhằm phát huy khả năng của học sinh trong trong quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Do đó, giáo viên cần quan tâm việc hướng dẫn các em cách đọc, cách học tài liệu tham khảo một cách có chọn lọc, có hệ thống theo chủ đề nhất định. Khi đọc sách và các tài liệu tham khảo cần biết thâu tóm những nội dung liên quan có thể vận dụng vào bài học. Tự đọc, tự học thường xuyên có hệ thống, khoa học hợp lí sẽ làm tăng khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh, giúp các em luôn chủ động lĩnh hội kiến thức, biến tri thức đọc trong sách vở thành những giá trị đích thực của bản thân để hình thành những phẩm chất, năng lực mới giúp các em đạt hiệu quả cao trong quá trình học tập bộ môn. Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được mục đích – yêu cầu, những sự kiện quan trọng và trọng tâm kiến thức của từng bài học lịch sử lớp 11 và lớp 12. Trên cơ sở đó các em về nhà tìm hiểu kỹ sách giáo khoa và trả lời những câu hỏi trong SGK yêu cầu. Với cách làm trên học sinh có thể nắm được kiến thức nền, khi ôn luyện cho học sinh giáo viên chỉ tập trung phân tích chuyên sâu những nội dung lịch sử. Để tìm hiểu, học tập tài liệu đạt hiệu quả giáo viên yêu cầu HS cần phải: Nắm chắc tên bài, tên các tiểu mục để tránh lạc đề khi làm bài.Vậy trước khi học tiểu mục nào, học sinh chuyển tiểu mục ấy thành câu hỏi. Tôi đã sử dụng kĩ thuật dạy học 5W1H, sơ đồ tư duy( sách: Bí quyết chinh phục điểm cao kì thi THPT quốc gia môn Lịch sử đã có sơ đồ tư duy cho tất cả các bài học) để hướng dẫn học sinh cách học . Ví dụ khi hướng dẫn học sinh học về các tổ chức chính trị, cách mạng trong bài 13: Phong trào dân tộc dân chủ 1925 – 1930: học về các tổ chức cách mạng học sinh đặt và trả lời được các câu hỏi: thành lập ở đâu; thành lập khi nào; ai là người thành lập; tại sao được thành lập; hoạt động như thế nào; có vai trò, ý nghĩa, đóng góp gì theo mẫu.
  9. 9 Nắm dàn ý của cả bài hoặc của từng phần. Trước khi học cả bài hay từng phần nên nắm chắc dàn ý của nó. Dàn ý thường theo giai đoạn hoặc theo sự kiện, chủ đề và thường theo một mô típ chung bao gồm: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Nắm được dàn ý giúp học sinh nhớ có hệ thống và nhớ lâu. Nắm những sự kiện quan trọng trong từng mục, bài, chương. Vì lịch sử bao giờ cũng gắn liền sự kiện – địa danh – nhân vật lịch sử. Học sinh tìm hiểu tài liệu phải biết chọn lựa sự kiện – địa danh - nhân vật lịch sử để ghi nhớ. Nên tìm các mối quan hệ giữa các sự kiện thì dễ nhớ và nhớ lâu. Nắm vững thuật ngữ, khái niệm: Cần phải nhớ đúng, hiểu rõ những thuật ngữ lịch sử, không được nhầm lẫn giữa một số thuật ngữ: “đấu tranh”, “chiến đấu”, “khởi nghĩa”, “ Chiến tranh nhân dân”, “ chiến tranh cách mạng” vì mỗi thuật ngữ có một nghĩa khác nhau. Ở nội dung này tôi cùng học sinh sử dụng quyển sách: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông. Kết quả học sinh đã nắm chắc, phân biệt rõ ràng những khái niệm, từ ngữ chuyên ngành được vận dụng vào làm bài tập, đặc biệt là bài trắc nghiệm. Bằng việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu tài liệu, sách giáo khoa như trên, học sinh sẽ nắm vững kiến thức lịch sử một cách có hệ thống, nên tránh việc học sinh học tủ và ứng phó với các dạng câu hỏi, bài tập của các kì thi. Giúp các em học sinh hình thành tư duy lôgic, tổng hợp, đánh giá, phân tích hay tìm thấy mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, mối quan hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc.
  10. 10 Thứ hai: Rèn luyện kỹ năng giải quyết nhưng câu hỏi, bài tập khó: Trong những buổi ôn tập, giáo viên kiểm tra học sinh trình bày những nội dung kiến thức, các bài tập vận dụng, nâng cao đã giao tự chuẩn bị ở nhà làm trong vở tự học, các học sinh góp ý, bổ sung, giáo viên chốt kiến thức học sinh cần đạt. Tiếp theo giáo viên ra các dạng bài tập nâng cao, quy định thời gian cho học sinh làm bài thử. Các bài tập nâng cao giáo viên hướng dẫn học sinh thành các dạng cụ thể: so sánh, chứng minh, giải thích, tìm mối liên hệ, rút ra bài học lịch sử Bài tập: Vì sao nói: Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình? Hướng dẫn chấm: hướng dẫn học sinh nhận thức được tính chất điển hình trong cách mạng tháng Tám trên các nội dung: cuộc cách mạng này giải quyết mâu thuẫn điển hình nào? Lực lượng nào làm nên thắng lợi của cách mạng? thành quả của cuộc cách mạng này là gì? Từ đó chỉ ra cho học sinh đáp án cụ thể: +Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu nhất là mâu thuẫn dân tộc, giương cao ngọn cờ dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. +Tập hợp lực lượng toàn dân tộc trong mặt trận dân tộc thống nhất, trực tiếp là mặt trận Việt Minh, không phân biệt giai cấp, tầng lớp +Lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, một hình thức chính quyền nhà nước rộng rãi hơn hình thức chính quyền công nông, một nhà nước chung của toàn dân. Thứ ba: Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận các dạng bài tập vận dụng. Dạng 1: Xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử. Đây là dạng đề mà trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi hay gặp phải. Khi gặp phải dạng đề thi này, học sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển lịch sử và sự tiếp nối lôgíc giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Sự kiện xảy ra trước tác động đến sự ra đời và phát triển của sự kiện sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, song không phải là sự lặp lại nguyên si, máy móc, mà có sự
  11. 11 phát triển sáng tạo đi lên. Về cơ bản đối với dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có sự sáng tạo trong suy nghĩ, và được nâng cao lên về mặt khái quát - lí luận. Ví dụ minh họa: Từ Phan Đình Phùng đến Phan Bội Châu và tới Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã trải qua các khuynh hướng cứu nước nào? Nhận xét gì về sự tồn tại của khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX? Đây là dạng câu hỏi tổng hợp yêu cầu học sinh có cái nhìn xuyên suốt sự vận động trong tiến trình tìm một con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc. Lần lượt các khuynh hướng cách mạng xuất hiện theo các xu hướng khác nhau từ khuynh hướng phong kiến, dân chủ tư sản tới khuynh hướng vô sản gắn liền với các hoạt động của Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và tới Nguyễn Ái Quốc. Khi Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản mới chấm dứt thời kỳ khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Tuy khuynh hướng dân chủ tư sản thất bại những sự tồn tại của nó là một tất yếu và có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc. Dạng 2: Các bài tập so sánh. Đây là dạng đề thi nâng cao kiến thức tổng hợp của học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh làm quen với dạng đề thi này vì trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, dạng đề thi này thường được sử dụng để thi. Vì nó đòi hỏi học sinh ngoài việc nắm kiến thức cơ bản ra cần phải hiểu vấn đề mới có thể giải quyết được. Bài tập : Lập bảng so sánh những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh? Chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong hoạt động cứu nước của hai ông. Hướng dẫn giải: Giáo viên phải giúp học sinh hướng giải quyết dạng bài tập này: chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hoạt động của hai ông có những điểm tích cưc, đóng góp nào, có hạn chế nào. Từ hạn chế đó để lại bài học gì cho cách mạng Việt Nam.
  12. 12 Dạng 3: Đánh giá sự kiện lịch sử. Đối với dạng bài này học sinh phải nêu lên quan điểm nhìn nhận, đánh giá, thể hiện sự hiểu biết của mình về các nội dung, sự kiện, nhân vật lịch sử Để giải quyết dạng bài này, trong quá trình dạy học giáo viên cần giảng cho học sinh hiểu được bản chất của vấn đề kết hợp với đưa ra ví dụ cụ thể để học sinh được thực hành và nắm vững kiến thức hơn. Vì vậy khi gặp dạng đề này ở bất cứ phần nào của lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới học sinh cũng biết vận dụng và giải quyết dễ dàng. Ví dụ minh họa: Cách mạng tháng Tám năm 1945 có phải là một cuộc cách mạng bạo lực? Đây là dạng bài tập khó vì vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn. Học sinh sẽ gặp khó khăn trong dạng câu hỏi này bởi vì chưa biết căn cứ vào đâu để đánh giá được sự kiện là cách mạng tháng Tám. Cuộc cách mạng này diễn ra chủ yếu bằng lực lượng chính trị của quấn chúng là chủ yếu với phương pháp đấu tranh hòa bình. Vậy thì tính bạo lực nó được thể hiện như thế nào. Để giúp học sinh hiểu được và giải quyết được câu hỏi này giáo viên phải giải thích cho học sinh biết và hiểu được quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và của Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, chỉ ra cho học sinh thấy cuộc cách mạng tháng Tám đã giải quyết được yêu cầu của một cuộc cách mạng bằng việc sử dụng kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang để giàng chính quyền cách mạng và kết thúc là sự ra đời của nươc Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945. Dạng 4: Các bài tập vận dụng kiến thức để giải thích, chứng minh. Đây là dạng bài khó đối với học sinh. Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên cần hướng dẫn học sinh thấy được bản chất quá trình phát triển của lịch sử, các nội dung lịch sử, sự kiện không tự nhiên xuất hiện mà có quá trình vận động. Nội dung trước làm tiền đề cho sự xuất hiện của nội dung sau và đến lượt mình nội dung sau lại tác động để dẫn đến tiến trình lịch sử về sau. Ví dụ: Tại sao nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử?
  13. 13 Hướng dẫn giải: đối với bài này giáo viên cần chỉ cho học sinh thấy được sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dẫn đến các phòng trào yêu nước, cách mạng đều thất bại, chỉ ra được với việc Đảng ra đời đã chấm dựt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước: chủ nghĩa Mác – Lê nin, giai cấp lãnh đạo cách mạng: giai cấp công nhân, chỉ ra được đây là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng Việt Nam: cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, công cuộc đổi mới. Như vậy, khi gặp các dạng bài tập trên giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, hiểu rõ bản chất của sự kiện, nội dung lich sử, điều quan trọng là bồi dưỡng cho các em năng lực tư duy, so sánh, nhận định, đánh giá một sự kiện, một vấn đề hay một giai đoạn lịch sử. Thứ tư: Rèn kỹ năng làm bài trắc nghiệm. Trong những năm gần đây, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh gồm có hai phần là trắc nghiệm chiếm 70% và tự luận chiếm 30%. Như vậy phần trắc nghiệm sẽ quyết định rất lớn đến kết quả cuối cùng của bài thi. Để giúp học sinh có thể làm tốt phần trắc nghiệm trong đề thi, trong quá trình bồi dưỡng giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài hay từng chuyên đề. Học phần kiến thức nền đến đâu cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm tương ứng để học sinh vận dụng được kiến thức vừa học và khắc sâu kiến thức. Mặt khác giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm với nhiều dạng khác nhau như dạng câu hỏi so sánh, dạng câu hỏi rút ra bài học kinh nghiệm, dạng câu hỏi chỉ ra điểm chung nhất của các nội dung lịch sử, dạng câu hỏi chỉ ra bản chất của nội dung lịch sử mỗi một dạng câu hỏi như vậy giáo viến cần hình thành cho học sinh những kỹ năng nhất định để trả lời các câu hỏi như vậy. Ngoài ra, giáo viên yêu cầu học sinh tải các add lịch sử về smartphone cho hệ điều hành Android hoặc ios. Trong các add này có hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phong phú, được chia ra thành từng mức độ: nhận biêt, thông hiểu, vận dụng. Học sinh tự ôn luyện và vận dung kỹ năng để làm. Trong quá trình thực hiện nếu có câu hỏi khó không làm được thì sẽ trao đổi trong nhóm và với giáo viên.
  14. 14 Ví dụ minh họa 1: dạng câu hỏi so sánh. Câu hỏi: Điểm khác biệt cơ bản trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu so với Phan Châu Trinh ở Việt Nam đầu thế kỉ XX là A. công tác tuyên truyền, tập hợp lực lượng. B. khuynh hướng cứu nước C. hệ tư tưởng. D. xu hướng cứu nước. Để trả lời câu hỏi này giáo viên hướng học sinh đến những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, giúp học sinh nhận thấy trong hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu dùng bạo lực để giàng lại độc lập còn Phân Châu Trinh ông chủ trương thực hiện các cải cách, mở mang dân trí và xem đó là điều kiện để giải phóng dân tộc. Từ sự phân tích đó chọn được phương án trả lời là D: xu hướng cứu nước. Ví dụ 2: Dạng câu hỏi rút ra bài học kinh nghiệm. Câu hỏi: Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm gì từ sự phát triển kinh tế của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN sau Chiến tranh thế giới thứ hai? A. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với mở cửa, hội nhập khu vực, quốc tế B. đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng nội địa, thay thế hàng nhập khẩu. C. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. D. tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển ngoại thương. Với dạng câu hỏi này giáo viên hướng học sinh đến nội dung của hai chiến lược phát triển đất nước của nhóm 5 nước sáng lập ASEAN sau Chiến tranh thế giới thứ hai là Chiến lược kinh tế hướng nội và đặc biệt là Chiến lược kinh tế hướng ngoại. Hiểu rõ bản chất của hai chiến lược và đóng góp của hai chiến lược này đối với sự phát triển đất nước của 5 nước này, sự phù hợp của chiến lược kinh tế hướng ngoại với sự phát triển chung trong xu thế phát triển chung của thế giới tiến tới xu thế toàn cầu hóa sau này. Từ đó chọn lựa phương án trả lời là A. xây dựng nền kinh tế tự chủ kết hợp với mở cửa, hội nhập khu vực, quốc tế. Ngoài ra khi làm bài trắc nghiệm giáo viên cần hình thành cho học sinh những kỹ năng cần thiết.
  15. 15 Thứ nhất: Đầu tiên học sinh nên đọc hết qua tất cả các câu hỏi và đáp án của đề thi, sau đó phân tích và xử lý nhanh những yêu cầu của đề. Khi trả lời, câu hỏi nào dễ nên làm trước, khó sẽ làm sau, không cần làm theo thứ tự đề bài đưa ra. Chỉ có 90 phút để làm 40 câu hỏi trong bài thi, học sinh không nên để mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi nào đó, vì thời gian trung bình mỗi câu chỉ hơn 2 phút. Cần tranh thủ thời gian giải quyết phần trắc nghiệm nhanh nhất có thể để tận dụng thời gian làm phần tự luận. Kết quả bài thi là sự kết hợp tốt cả hai phần trắc nghiệm và tự luận. Thứ hai: Khi làm bài thi, học sinh hãy đọc kỹ yêu cầu của đề, tìm ra "từ khóa" chính, nếu cần thiết thì có thể dùng bút chì khoanh tròn "từ khóa". Đây là cách dễ dàng nhất giúp học sinh có thể chọn được đáp án chính xác và nhanh nhất, không sợ lạc đề hay nhầm kiến thức. Thứ ba: Thời gian làm bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử chỉ có 90 phút với 40 câu hỏi nên cần tính toán khả năng từ "chậm và chắc" sang "chậm" thành "nhanh". Cần lưu ý, đọc kỹ, suy nghĩ kỹ câu hỏi và phương án trả lời không có nghĩa là chần chừ, do dự. Thứ tư: Khi xem một câu hỏi, nếu không xác định chính xác câu trả lời thì thay vì đoán mò hoặc khoanh bừa thì hãy dùng phương pháp loại trừ. Dùng phương pháp loại trừ là cách tốt nhất để chọn được đáp án chính xác. Hơn nữa, thay vì đi tìm đáp án đúng, học sinh có thể thử tìm phương án sai cũng là một cách hay và loại trừ càng nhiều phương án càng tốt. Thứ năm: Giáo viên cho học sinh cọ sát thực tế bằng cách tiếp cận nhiều đề thi thử và hướng dẫn học sinh cách làm một bài thi. Thứ năm: Rèn kỹ năng làm bài thi hoàn chỉnh. Học sinh giỏi có kiến thức và kĩ năng làm bài là điều cần thiết trong quá trình làm bài thi. Nhưng điều đó chưa đủ để đảm bảo bài thi đạt kết quả cao, mà điều quan trọng là học sinh phải hiểu đề, nắm được yêu cầu của đề ra và cách làm một bài thi. Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, giáo viên cho học sinh tiếp cận nhiều đề thi, giáo viên có thể ra đề cho học sinh luyện, quan trọng hơn là
  16. 16 cho học sinh được thực hành cọ sát đề thi học sinh giỏi các năm trước của tỉnh Bắc Giang và của các tỉnh. Giáo viên có thể dành một số buổi học ra đề bài tương đương một đề học sinh giỏi để các em trong đội tuyển làm với thời gian là 120 phút. Bởi vì đây là cơ sở để giáo viên nắm bắt khả năng thực sự của học sinh trên nhiều phương diện, từ cách hiểu đề, xác định yêu cầu của đề, tìm ý đến cách viết, phân bố thời gian làm bài, kĩ năng giải quyết nhanh nhất phần trắc nghiệm để giành một phần thời gian lamg bài trắc nghiệm cho việc làm tự luận, đảm bảo cân đối, hoàn chỉnh của toàn bài thi. Tất cả đều được thể hiện trong bài thi của học sinh. Gần đến thời gian thi có thể cho học sinh thi thử đúng với thời gian thi chính thức để các em làm quen với khung thời gian thi, suy nghỉ, tư duy giải quyết tình huống trong phòng thi. Giáo viên ra đề cho học sinh làm ở trên lớp, với thời gian học sinh làm bài là 120 phút. Sau đó giáo viên sẽ chấm bài và chữa lỗi thật kĩ, nhận xét đầy đủ và thấu đáo bài làm của học sinh từ góc độ ý có đầy đủ, phong phú hay nghèo nàn hoặc thiếu ý đến cách diễn đạt bằng ngôn từ chính xác chưa. Giáo viên nhận xét cụ thể từ ưu điểm đến khuyết điểm của mỗi bài để các em phát huy mặt mạnh và khắc phục hạn chế đó trong các bài luyện thi tiếp theo. Tuy nhiên thời gian ở lớp không nhiều, nên giáo viên không thể cho học sinh luyện tập được nhiều đề khi bồi dưỡng trên lớp vì mất thời gian. Điều đó có thể khắc phục được là cho học sinh luyện tập ở nhà và tự ấn định về thời gian. Đây là một việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi. Nó giúp cho các em thấy được điểm mạnh, mặt yếu của mình từ đó mà khắc phục và phát huy. Kết quả đạt được: Bản thân tôi tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trong các năm học 2013 – 2014, 2014 – 2015. Trong các năm học 2016 – 2017, 2019 – 2020, 2020 - 2021 tôi phụ trách chính đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của trường THTP Lạng Giang số 1. Từ những kết quả trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử những năm gần đây của nhà trường tôi nhận thấy kết quả này còn thấp, chưa tương xứng với vị thế, kỳ vọng của nhà trường nên trong năm học 2019 – 2020 khi nhận trách nhiệm phụ trách đội tuyển học sinh giỏi tôi đã tìm tòi, đúc kết
  17. 17 kinh nghiệm bản thân và các đồng nghiệp để xây dựng sáng kiến trên, áp dụng sáng kiến trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của mình trong năm học 2019 – 2020, tiệp tục được bổ sung, điều chỉnh để áp dụng cho năm học 2020 - 2021. Tôi nhận thấy đã có sự chuyển biến tích cực trong số giải đạt được và chất lượng các giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2020 – 2021. Bảng thống kê kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử Trường THPT Lạng Giang số 1 Năm học Giải nhất Giải nhì Giải ba Giải khuyến khích Ghi chú 2018-2019 0 0 0 1 2019 - 2020 0 0 2 1 2020 - 2021 0 03 0 0 Ngoài ra, các giải pháp trên cũng được tôi áp dụng một phần trong giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Lạng Giang số 1. Lớp được áp dụng là lớp 12A14. Đây là lớp cuối của lớp khối D, chất lượng học sinh cũng chưa cao, nhưng khi áp dụng học sinh có tinh thần học tập, cố gắng tự học, hình thành khả năng tư duy, nhận biết các dạng câu hỏi, bài tập. Vì vậy kết quả đạt được đáng khích lệ. Bảng thống kê kết quả học tập lớp 12A14 (Học kì 1) Ghi Giỏi Khá TB Yếu - kém Sĩ số chú SL % SL % SL % SL % 47 19 40,4 24 51,1 4 8,5 0 0 Với sự chuyển biến tích cực trên tôi mong muốn sáng kiến của mình sẽ được tiếp tục áp dụng trong các năm học tiếp theo để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử cũng như trong công tác ôn tập cho học sinh chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Những giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi được tôi áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong năm học 2019 – 2020. Năm
  18. 18 học 2020 – 2021 tôi tiếp tục áp dụng, có những bổ sung, điều chỉnh giải pháp trong quá trình thực hiện và áp dụng thí điểm trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử tại lớp 12A14. Với kết quả bước đầu đáng kích lệ, tôi mong muốn các giải pháp trong sáng kiến sẽ được áp dụng trong giảng dạy môn lịch sử tại trường THPT Lạng Giang số 1 trong các năm học tiếp theo. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến Sau khi áp dung các giải pháp trên trong công tác giảng dạy môn Lịch sử nói chung và đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng tôi nhận thấy đã mang lại hiệu quả như sau: Sáng kiến thực hiện không tốn kém về mặt kinh tế mà còn được vận dụng tốt cho quá trình dạy học Lịch sử nói chung và công tác bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng. Sáng kiến cung cấp cho giáo viên có tâm huyết với bộ môn Lịch sử hướng đi và cách thức thực hiện việc bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả. Học sinh hứng thú học tập môn lịch sử, học sinh có năng khiếu đăng ký vào đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của trường ngày càng nhiều. Chất lượng giảng dạy cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi không ngừng được nâng cao. Cam kết: Tôi cam đoan những điều trình bày trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến (Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên) Phạm Hùng Tráng
  19. 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Lịch sử lớp 12, Nhà xuất bản Giáo dục. [2] Trương Ngọc Thơi, Luyện Thị đại học, cao đẳng và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học sư phạm. [3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu hướng dẫn nội dung thi chọn học sinh giỏi quốc gia. [4] Nguyễn Văn Ninh – Nguyễn Thị Thế Bình (2019), Bí quyết chinh phục điểm cao kì thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. [5] Dương Thị Huyền(2020), Ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch sử - Bài tập so sánh, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên. [6] Nguyễn Mạnh Hưởng(2020), 50 đề thi chọn lọc chinh phục điểm cao kì thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. [7] Phan Ngọc Liên(2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.