Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_day_hoc_mon_bong_chuyen_bang_mot_so_bai.docx
Nội dung tài liệu: Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt
- MỤC LỤC PHẦN A. LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................1 PHẦN B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI.......................................................................6 I. Thực trạng công tác giảng dạy và học môn bóng chuyền tại trường THPT Chuyên Bắc Giang...............................................................................6 II. Biện pháp: “Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt”. ..................................................................................7 1. Thực trạng của việc sử dụng biện pháp sửa sai trong dạy học...............7 1.1. Các bước tiến hành của biện pháp sửa sai.............................................7 1.2. Thực nghiệm. ............................................................................................7 1.2.1. Khảo sát thực trạng năng lực thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. ..............................................................................8 1.2.2. Xác định nguyên nhân dẫn đến sai lầm..............................................11 1.2.3. Xác định các bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc...........................11 1.2.4. Lựa chọn hình ảnh, xây dựng video....................................................15 1.2.5. Tiến hành sửa sai. ................................................................................16 1.2.6. Kiểm tra đánh giá chất lượng..............................................................16 PHẦN C: MINH CHỨNG HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP ................................17 PHẦN D. CAM KẾT.....................................................................................19 1
- DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TỪ GỐC VIẾT TẮT Thể dục thể thao TDTT Vận động viên VĐV Trung học phổ thông THPT Giáo dục thể chất GDTC Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH - HĐH 1
- PHẦN A. LỜI MỞ ĐẦU Sức khỏe của con người là tài sản vô giá, là nền móng cơ bản để con người thực hiện hoạt động khác. Chính vì vậy mà ngay từ xa xưa con người luôn có xu hướng vận động để củng cố tăng cường và phát triển sức khỏe. TDTT là một nhân tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội và tinh thần của con người. Tập luyện TDTT không những đem lại sức khỏe mà còn góp phần tích cực giúp cho con người phát triển toàn diện nhân cách. Nhận định về sức khỏe Hồ Chủ Tịch đã nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nhà nước, gây đời sống mới việc gì cũng cần đến sức khỏe mới thành công” (Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục tháng 3 – 1946). Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác TDTT thể hiện các thông tư, chỉ thị phát triển phong trào TDTT qua từng giai đoạn lịch sử Cơ sở lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển toàn diện TDTT và GDTC. Để xây dựng một nền TDTT xã hội chủ nghĩa đó là xây dựng phong trào TDTT của dân, do dân, vì dân. Với mục tiêu nhằm tăng cường sức khỏe cho nhân dân lao động thì đòi hỏi chúng ta phải làm cho phong trào TDTT quần chúng ở cơ sở, trong các trường học phát triển một cách rộng rãi, cân đối khoa học, liên tục, có hệ thống, có tổ chức. Ngay từ năm 1866, Mác đã đưa ra một chương trình đào tạo con người phát triển toàn diện, coi đó là mục đích chính trị lớn nhất của giai cấp công nhân. Để xây dựng được chủ nghĩa xã hội cần có những con người phát triển về trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục và giáo dục lao động. Kết hợp với việc đào tạo trên là: “Phương pháp duy nhất làm sản sinh ra con người phát triển toàn diện”. ( Các- Mác – Tuyển tập 16 – NXB Diet2 – Beclin 1962 – T508). Mác đánh giá nhân tố con người trong xã hội, coi đó là động lực, là yếu tố quan trong của xã hội và khẳng định rằng “Sự giàu có của xã hội trong sự phát triển mỗi thành viên”. (Các – Mác – Cơ sở phê bình kinh tế chính trị - NXB Diet2 – Beclin 1962 – T595). 2
- Còn Ăngghen thì sự phát triển của con người toàn diện nhất là về thể chất rất cần thiết cho sự phát triển của quốc phòng. Người chiến sĩ có thể lực và trí tuệ tốt mới đủ điều kiện để phục vụ chiến đấu trong mọi tình huống. Bằng những kinh nghiệm thực tiễn và hoạt động khoa học, Lênin đã phát triển cơ sở lý luận của Mác – Ăngghen về TDTT. Lê nin đã chú ý đến 3 vấn đề là giáo dục toàn diện, đào tạo bách nghề và phát triển rộng rãi nên tảng văn hóa cho nhân dân lao động. Sự phát triển thể chất được Lênin coi trọng và đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Người nói: “Thanh niên cần sự vui vẻ trong cuộc sống và cần có sức sống cao. Thể thao lành mạnh, thể dục, đi bộ, bơi là các bài tập thể thức đa dạng sở thích, công tác tư tưởng học tập nghiên cứu khoa học và rất nhiều cái cần cho học trong cuộc sống”. (V.I. Lê nin– Tuyển tập 308 – NXB Diet2 – Beclin 1971 – T53). Như vậy, theo những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lê nin thì TDTT là một bộ không thể tách rời khỏi cuộc sống của con người. Hơn nữa còn làm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ và làm nâng cao năng suất lao động, phục vụ đắc lực cho quân đội. Những chủ trương, đường lối phát triển TDTT của Đảng và Nhà nước. Thế kỷ XX đã đi qua, đất nước chúng ta đang bước vào thời kì đổi mới với nhiều thách thức mới. Thế kỷ XX là thế kỷ nhân dân đấu tranh oanh liệt giành độc lập tự do, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế kỷ của những chiến công và thắng lợi của cách mạng tháng 8, thắng lợi của công cuộc đổi mới và từng bước đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta đã xây dựng được một khối đại đoàn kết dân tộc, tạo lên sức mạnh to lớn, một lòng chiến đấu vì tổ quốc. Nhận thức được vai trò của TDTT đóng góp một phần vô cùng quan trọng của công cuộc đấu tranh và xây dựng đất nước. Vì vậy ngay từ khi nước ta được thành lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký xác lệnh số 38 thiết lập trong bộ quốc gia giáo dục một nhà thanh niên và thể dục. Cũng trong ngày 27/3/1946 Người ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục. Từ đây ra phong trào tập luyện TDTT quần chúng được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong cả nước. Lời kêu gọi tập 3
- luyện TDTT của Người là cơ sở quan trọng định hướng cho việc hình thành một nền TDTT mới ở Việt Nam. Trên cơ sở định hướng chung của Đảng và Nhà nước cùng với công tác quy hoạch phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2030 với các nội dung: - Thể dục, thể thao cho mọi người. + Thể dục, thể thao quần chúng. + Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường. + Thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang. - Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp. - Ủy ban Olympic Việt Nam và tổ chức xã hội – nghề nghiệp về thể thao. Mục tiêu chung: Thực hiện mục tiêu chung đã xác định trong Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2030: Tiếp tục mở rộng, đa dạng hóa các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể dục, thể thao giải trí để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng tuổi thọ của người Việt Nam và đáp ứng nhu cầu giải trí của xã hội, phải tạo thói quen để con người hoạt động vận động hợp lý suốt đời. Tạo sự chuyển biến rõ rệt về giáo dục thể chất và thể thao trường học để góp phần nâng cao thể trạng, tầm vóc người Việt Nam, giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển tinh thần của học sinh. Giáo dục thể chất và thể thao trường học phải là nền tảng để phát triển thể thao thành tích cao. Tích cực phát triển thể dục, thể thao trong lực lượng vũ trang, góp phần đảm bảo tốt an ninh quốc phòng; Xây dựng nền thể dục thể thao phát triển và tiến bộ, đổi mới và hoàn thiện hệ thống tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo tài năng thể thao gắn kết giữa các tuyến, các lớp kế cận, có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương để phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp một cách cơ bản, vững chắc. Đưa thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và truyền thống dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế; không ngừng nâng cao thành tích thể thao, phấn 4
- đầu đến năm 2030 là 1-2 nước đứng đầu Đại hội thể thao Đông Nam Á, từ 12- 14 nước trong Đại hội thể thao Châu á và có huy chương vàng Olympic, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao vị thế của Việt Nam trên đấu trường thể thao quốc tế, góp phần tích cực thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu chung mang tính tổng quát của Chiến lược phát triển Thể thao Việt Nam từ nay đến năm 2030 là xây dựng và phát triển nền thể dục thể thao nước nhà “Vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển”. Định hướng phát triển TDTT của tỉnh Bắc Giang Để thực hiện tốt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị, UBNN tỉnh Bắc Giang ban hành quyết định số 411/QĐ-UBND về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2030 với nội dung như sau: Mục tiêu: - Tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị: -Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thể dục, thể thao. - Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học. -Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động thể dục, thể thao quần chúng. - Nâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao. - Xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của nhân dân theo tinh thần vì sự nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển. - Phát triển mạnh mẽ và toàn diện phong trào TDTT quần chúng, hình thành nề nếp rèn luyện thân thể thường xuyên của người dân, trong đó đặc biệt chú trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ, đáp ứng cung 5
- cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH góp phần xây dựng người dân có nếp sống văn minh, thanh lịch. - Nâng cao thành tích TDTT quần chúng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo VĐV năng khiếu các môn thể thao. Đặc biệt là các môn thể thao giàu tiềm năng, thế mạnh của huyện nhằm phát hiện bổ sung ngày càng nhiều VĐV tài năng trẻ cho đội tuyển tỉnh góp phần phát triển vững chắc và thực hiện thắng lợi các mục tiêu thể thao đỉnh cao của tỉnh. Cùng với sự phát triển của đất nước, phong trào TDTT ngày càng phát triển mạnh mẽ rộng khắp cả nước, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến vùng núi và đặc biệt là phát triển rộng khắp trong các nhà trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp, các trường cao đẳng - đại học trong cả nước. Trong các môn thể thao thì bóng chuyền là nội dung được nhiều giới, nhiều lứa tuổi ưa chuộng và tham gia tập luyện, là môn học đang được nhiều trường trung học phổ thông (THPT) trong đó có trường tôi đã và đang công tác lựa chọn vào môn học tự chọn. Tại các giải hội khỏe Phù Đổng từ cấp tỉnh đến cấp quốc gia thì bóng chuyền đã và đang được sử dụng là một nội dung thi đấu chính thức. Song trong bóng chuyền để đạt được trình độ kỹ thuật tốt không phải là điều đơn giản đặc biệt là đối với học sinh THPT. Nếu ngay từ đầu người tập không tạo cho mình khái niệm đúng về kỹ thuật động tác thì dần dần trong quá trình tập luyện sẽ trở thành thói quen sai và khó sửa, sẽ hạn chế trong quá trình tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật cũng như nâng cao hiệu quả kỹ - chiến thuật. Trong những năm công tác giảng dạy của mình, gần như năm nào chúng tôi cũng giảng dạy nội dung bóng chuyền, chúng tôi nhận thấy hầu hết các em học sinh đã được làm quen với môn bóng chuyền từ phong trào thể thao ở địa phương tuy nhiên đa phần các em thực hiện kỹ thuật còn mắc một số sai lầm cơ bản đặc biệt là kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Trong giảng dạy kỹ thuật động tác nói chung và kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt nói riêng, việc nắm bắt được kỹ thuật động tác là rất quan trọng. Nếu ngay từ đầu khi mới học kĩ thuật đã không nắm được yếu lĩnh kỹ thuật, không hình thành đúng về động tác thì dần dần trong quá trình tập luyện 6
- sẽ trở thành thói quen sai khó sửa. Từ đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình tập luyện và chất lượng giờ học. Vì vậy trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác giáo viên phải kịp thời phát hiện ra được những sai lầm thường mắc cũng như nguyên nhân của nó. Đây là vấn đề khó, không phải giáo viên nào cũng làm được, nhưng việc xác định vận dụng biện pháp sửa sai như thế nào cho phù hợp để có hiệu quả lại càng quan trọng hơn. Xuất phát từ những lý do trên nên chúng tôi đã lựa chọn biện pháp “Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt”. * Đóng góp mới của biện pháp: - Sửa sai dựa trên nguyên nhân dẫn đến sai lầm mà học sinh mắc phải; - Có ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thực hiện biện pháp; - Xây dựng, lựa chọn được các bài tập bổ trợ kỹ thuật phù hợp với từng nhóm sai để khắc phục. PHẦN B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI I. Thực trạng công tác giảng dạy và học môn bóng chuyền tại trường THPT Chuyên Bắc Giang. 1. Ưu Điểm: Điều kiện sân bãi, dụng cụ đầy đủ học sinh yêu thích môn bóng chuyền. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế: Trong dạy học môn giáo dục thể chất (GDTC) nói chung và môn bóng chuyền tại trường THPT Chuyên Bắc Giang nói riêng thì học sinh mắc sai lầm khi thực hiện kỹ thuật động tác là việc diễn ra thường xuyên - là hiện tượng bình thường. Điều quan trọng là giáo viên phải kịp thời phát hiện ra được những sai lầm đó và sửa sai cho học sinh. Nếu để học sinh thực hiện động tác sai mà không sửa thì động tác sai đó sẽ cứ được lặp đi lặp lại nhiều lần và lâu dần sẽ hình thành thói quen sai điều này sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng kỹ thuật động tác, ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giờ học, do đó cần phải sửa sai kịp thời. Sửa sai không phải là phương pháp nhưng nó là biện pháp góp phần kịp thời giúp học sinh thực hiện đúng, chính xác kỹ thuật động tác, tạo điều kiện tiếp thu kỹ thuật 7
- động tác nhanh chóng, chính xác và phòng tránh chấn thương, góp phần nâng cao hiệu quả mỗi giờ dạy. II. Biện pháp: “Nâng cao chất lượng dạy học môn bóng chuyền bằng một số bài tập sửa sai cho học sinh lớp 11 khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt”. 1. Thực trạng của việc sử dụng biện pháp sửa sai trong dạy học. Từ trước tới nay giáo viên chỉ làm mẫu cho học sinh sau đó yêu cầu học sinh làm theo. Với cách sửa sai này sẽ tạo cho học sinh cách học, cách thực hiện động tác thụ động và sẽ không sửa sai được triệt để. Vì học sinh sẽ không biết vì sao mình sai và cũng không thể tự ý thức để sửa sai cho mình. Hơn nữa khi sử dụng biện pháp sửa sai như thế sẽ không tạo được hứng thú học cho học sinh, điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến thái độ và kết quả học tập.Vì thế để có được một giờ học có hiệu quả thì cần thay đổi thói quen này. 1.1. Các bước tiến hành của biện pháp sửa sai. Bước 1: Khảo sát thực trạng năng lực thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt của học sinh. Bước 2: Xác định nguyên nhân dẫn đến sai lầm. Bước 3: Xây dựng, lựa chọn các bài tập để sửa chữa sai lầm thường mắc. Bước 4: Lựa chọn hình ảnh, xây dựng video (về những sai lầm thường mắc và các bài tập để khắc phục sai lầm). Bước 5: Tiến hành sửa sai. Bước 6: Kiểm tra đánh giá chất lượng. 1.2. Thực nghiệm. Để đánh giá được hiệu quả của biện pháp, chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm trên lớp 11 chuyên Nhật và 11 chuyên Toán. - Lớp 11 chuyên Toán: chúng tôi áp dụng biện pháp sửa sai thông thường để sửa sai cho học sinh. - Lớp 11 chuyên Nhật: chúng tôi áp dụng biện pháp sử dụng một số bài tập nhằm sữa sai cho học sinh. Thời gian tiến hành: Từ ngày 06/11/2023 đến ngày 06/01/2024. 8
- 1.2.1. Khảo sát thực trạng năng lực thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Để khảo sát được thực trạng năng lực kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu phỏng vấn và kiểm tra đánh giá chất lượng của học sinh vào tuần từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2023 nội dũng kĩ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. * Kiểm tra thăm dò, đánh giá chất lượng ban đầu của học sinh - Thời gian: Từ ngày 06/11 đến ngày 11/11/2023 - Nội dung kiểm tra: kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. - Hình thức kiểm tra: Đánh giá trực tiếp kỹ năng thực hiện kỹ thuật động tác của học sinh. Lần lượt gọi 2 học sinh (cùng giới tính- đứng đối diện nhau và cách nhau khoảng 2- 4m) lên thực kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, mỗi lượt kiểm tra diễn ra trong khoảng 1 phút. Kết quả thu được ở bảng 1. Bảng 1: Kết quả kiểm tra đánh giá ban đầu kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Trước khi sửa sai Lớp Lớp 11 Toán Lớp 11 Nhật (34 học sinh) (35 học sinh) Kết quả Số Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % lượng Đúng với kỹ thuật cơ bản 5 14,7% 5 14,3% Cơ bản đúng với kỹ thuật cơ bản nhưng 26 76,5% 26 74,3% vẫn còn mắc một số sai lầm Không thực hiện được động tác 3 8,8% 4 11,4% Đồng thời qua kiểm tra sư phạm tôi ghi chép lại số lượng các sai lầm mà học sinh thường mắc khi thực hiện kỹ thuật động tác và thu được kết quả ở bảng 2. 9
- Bảng 2: Kết quả thống kê số lượng học sinh với những sai lầm thường mắc khi thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Số học T Tỉ lệ Những sai lầm thường mắc sinh T % (52 em) Vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác 1 (thường bị tụt xuống dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới 25 48,1% ngực). 2 Khi chuyền bóng các ngón mở quá rộng hoặc quá hẹp. 18 34,6% Khi chuyền bóng chưa phối hợp được lực của các bộ 3 9 17,3% phận cơ thể Qua bảng số liệu trên tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh mắc phải những sai lầm chủ yếu là: -Vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác (thường bị tụt xuống dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới ngực); - Khi chuyền bóng các ngón mở quá rộng hoặc quá hẹp; - Khi chuyền bóng chưa phối hợp được lực của các bộ phận cơ thể. Đặc biệt là vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác (thường bị tụt xuống dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới ngực) chiếm tỉ lệ cao nhất (48,1%). Vì vậy khi dạy kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt giáo viên cần chú ý các nội dung này để sửa sai và rèn kỹ năng cho học sinh. * Nội dung phiếu phỏng vấn Để biết thêm thực trạng của học sinh trước khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, tôi tiến hành khảo sát mức độ tiếp cận kỹ thuật của học sinh bằng hình thức thông qua phiếu phỏng vấn, Kết quả thu được ở bảng 3. Bảng 3: Kết quả thực trạng của học sinh trước khi học kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt ở cấp THPT: 10
- Kết quả Số lượng Số lượng TT Nội dung phỏng vấn Tỉ lệ người người trả % được hỏi lời 1 Đã được học kỹ thuật chuyền bóng cao tay 69 40 58 % bằng hai trước mặt từ lớp học dưới. 2 Chưa được học nhưng đã được tiếp xúc với kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay 69 23 33,3% trước mặt thông qua phong trào của địa phương. 3 Chưa được làm quen với kỹ thuật chuyền 69 6 8,7% bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Để khẳng định thêm căn cứ xác định rõ mức chính xác của những sai lầm thường mắc của học sinh khi thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Tôi liệt kê những sai lầm đó vào phiếu phỏng vấn nhằm lấy ý kiến trả lời đánh giá mức độ sai phạm của học sinh. Thông qua ý kiến trả lời của các đồng nghiệp là giáo viên GDTC đã trải qua thực tiễn giảng dạy kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Kết quả thu được ở bảng 4. Bảng 4: Kết quả đánh giá mức độ các sai lầm thường mắc của học sinh khi thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Số phiếu (6 phiếu) TT Những sai lầm thường mắc Tỉ lệ Không Đồng ý Tỉ lệ % % đồng ý Vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác (thường bị tụt xuống 100 1 6 0 0% dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới % ngực). Khi chuyền bóng các ngón mở quá 83,3 2 5 1 16,7% rộng hoặc quá hẹp. % 11
- Số phiếu (6 phiếu) TT Những sai lầm thường mắc Tỉ lệ Không Đồng ý Tỉ lệ % % đồng ý Khi chuyền bóng chưa phối hợp được 66,7 3 4 2 33,3% lực của các bộ phận cơ thể. % Qua kết quả kiểm tra và các phiếu phỏng vấn thăm dò trên cho thấy đa số học sinh đã hình dung và thực hiện được động tác tuy nhiên khi thực hiện thì vẫn còn đang mắc những sai lầm cơ bản. Qua kết quả số liệu ở bảng 2 và bảng 4 chúng ta nhận thấy rằng các lỗi thứ 1, 2, 3 vẫn chiếm tỉ lệ % cao, đặc biệt là lỗi thứ 1- cũng tương ứng với kết quả kiểm tra sư phạm. Qua đây, tôi xem những sai lầm các em thường mắc khi thực hiện kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt đó là: -Vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác (thường bị tụt xuống dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới ngực); - Khi chuyền bóng các ngón mở quá rộng hoặc quá hẹp; - Khi chuyền bóng chưa phối hợp được lực của các bộ phận cơ thể. 1.2.2. Xác định nguyên nhân dẫn đến sai lầm. Để biết được nguyên nhân dẫn đến các sai lầm của học sinh tôi thông qua quan sát sư phạm và qua vấn đáp giữa giáo viên và học sinh. Qua đây tôi thấy những sai lầm trên của học sinh chủ yếu xuất phát từ những nguyên nhân sau: - Chưa hiểu rõ nhiệm vụ và chưa nắm được yếu lĩnh kỹ thuật động tác; - Không tin vào sức mình, sợ hãi và thiếu quyết tâm; -Sự can thiệp của kỹ xảo cũ. 1.2.3. Xác định các bài tập sửa chữa sai lầm thường mắc Căn cứ vào mục đích yêu cầu môn học, đặc điểm kỹ thuật môn học, nguyên tắc dạy học, trình độ của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất tôi xây dựng và lựa chọn một số bài tập nhằm sửa sai cho học sinh như sau: * Đối với nhóm học sinh gặp sai lầm 1: Thực hiện kỹ thuật mà vị trí tiếp xúc giữa tay với bóng không chính xác (thường bị tụt xuống dưới mũi, dưới cằm thậm chí dưới ngực). 12
- Định TT Bài tập lượng Tại chỗ mô phỏng động tác chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt (không bóng) TTCB cơ bản, đưa hai bàn tay đặt trước mặt cao hơn trán 15 - 10n/1lầ 1 25cm. Sau đó hoãn sung và dùng lực cách tay, khuỷu tay, cổ tay, n x2 đẩy lên theo hướng 450 (chú ý vị trí tiếp xúc của tay với bóng, khuỷu tay). Tự chuyền bóng (bóng treo cố định) Học sinh xếp thành hàng dọc lần lượt từng bạn di chuyển lên 4-6 lượt 2 thực hiện động tác chuyền bóng đi (bóng được treo lên tầm / ngang hoặc thấp trán của học sinh) 1 người (chú ý vị trí tiếp xúc của tay với bóng, khuỷu tay) 3 Chuyền bóng có người hỗ trợ. 1 phút 13
- Định TT Bài tập lượng Hai người đứng đối diện và cách nhau khoảng 1,5- 2m. Một người làm tư thế chuyền bóng, người kia tung nhẹ bóng vào tay người chuyền để bắt, giữ bóng (chú ý vị trí tiếp xúc của tay với bóng, khuỷu tay). Tập tự tung bóng lên cao, sau đó tạo hình tay đỡ bóng để bóng rơi vào tay. Mỗi người một bóng, tập tự tung bóng lên cao theo phương 4 1,5 phút thẳng đứng. Khi bóng rơi xuống đúng tầm thì đón bóng. Chú ý vị trí tiếp xúc tay với bóng, cẳng tay - khuỷu tay không được rộng quá hoặc hẹp quá. * Đối với nhóm mắc sai lầm 2: Khi chuyền bóng các ngón mở quá rộng hoặc quá hẹp. Định TT Bài tập lượng Tại chỗ mô phỏng hình tay (không bóng) TTCB cơ bản, hai bàn tay đưa ra phía trước thân người - xòe 10n/ 1 lần 1 ra rồi áp sát vào nhau, sau đó mở ra - 2 tay tạo thành hình túi x 2 đồng thời đưa lên đặt chếch cao trước trán khoảng 15cm- 20cm 14
- Tại chỗ tập hình tay (có bóng): Cho ôm gọn bóng vào tay đặt từ dưới đưa lên chếch cao trước 10n/ 1 lần 2 trán (bóng được tiếp xúc bằng các ngón tay và một phần chai x 2 tay của ngón trỏ). Tập hình tay tiếp xúc bóng có người hỗ trợ Người tập đứng ở tư thế chuẩn bị của kỹ thuật chuyền bóng 3 cao tay bằng hai tay trước mặt, người hỗ trợ cầm bóng đặt vào 1,5 phút tay người tập. Sau đó người tập phối hợp lực đẩy bóng đi trong khi người hỗ trợ giữ và hơi đè bóng xuống. Tập hình tay tiếp xúc bóng. 4 Mỗi người mỗi bóng tự tung bóng lên và bắt bóng khi rơi 1,5 phút xuống, chú ý hình tay tiếp xúc bóng. * Đối với nhóm học sinh gặp sai lầm: Khi chuyền bóng chưa phối hợp được lực của các bộ phận cơ thể. 15
- Định TT Bài tập lượng Tập bóng có người hỗ trợ: Người tập đứng ở tư thế chuẩn bị của kỹ thuật chuyền bóng 1 cao tay bằng hai tay trước mặt, người hỗ trợ cầm bóng đặt vào 1 phút tay người tập. Sau đó người tập phối hợp lực đẩy bóng đi trong khi người hỗ trợ giữ và hơi đè bóng xuống. Chuyền bóng cho bạn đối diện (cự ly gần- vừa- xa) Hai người đứng đối diện, một người đưa bóng lên chếch cao trước trán đồng thời chuyển trọng tâm sang chân trước và phối 2 2 phút hợp hông, vai, khuỷu tay, cổ tay và các ngón tay chuyền bóng đi theo hướng về trước lên cao cho người còn lại. Người còn lại bắt bóng lại rồi tung lại cho bạn thực hiện tiếp. Tự chuyền bóng (bóng treo cố định) Học sinh xếp thành hàng dọc lần lượt từng bạn di chuyển lên thực hiện động tác chuyền bóng đi bóng được treo lên (tầm 4-6 lượt / 3 thấp hơn trán của học sinh) 1 người Chú ý phối hợp chân, hông, vai, khuỷu tay, cổ tay và các ngón tay) Tập tự tung bóng lên cao, sau đó kết hợp lực và chuyền bóng liên tục lên cao 4 Mỗi người một bóng, tập tự tung bóng lên cao theo phương 1, 5 phút thẳng đứng. Khi bóng rơi xuống đúng tầm thì đón bóng và tiếp tục chuyền dựng bóng lên cao. 1.2.4. Lựa chọn hình ảnh, xây dựng video. Với mục đích giúp các em có thể tự nhận ra được những sai lầm mình đang gặp phải tôi đã xây dựng những đoạn video, những hình ảnh mô tả lại những sai lầm của các em. Ngoài ra để giúp các em hạn chế những khó khăn trong quá trình tập luyện ở lớp, góp phần nâng cao hiệu quả của biện pháp, của giờ học thì tôi cũng đã xây 16
- dựng những đoạn video về những bài tập dùng để sửa sai mà các em sẽ thực hiện ở trên lớp. 1.2.5. Tiến hành sửa sai. * Trước khi học tiết học thứ 2 của nội dung chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt tôi gửi cho học sinh xem các hình ảnh và video liên quan những sai lầm mà các em đang mắc phải cũng như những bài tập các em sẽ tập ở những buổi học tiếp theo (gửi qua nhóm học tập của lớp- nhóm này là ứng dụng của mạng xã hội, lớp lập ra để phục vụ học tập của lớp). * Bắt đầu ở tiết học thứ 2 của nội dung chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt khi tiến hành tập luyện tôi chia học sinh thành 3 nhóm (học sinh cùng mắc sai lầm giống nhau thì sẽ vào cùng một nhóm). Những học sinh thực hiện được kỹ thuật động tác được chia đều ra các nhóm để tập hỗ trợ những học sinh còn lại. - Đối với sự sai do học sinh chưa hiểu rõ nhiệm vụ học tập thì tôi giảng lại nhiệm vụ để học sinh hiểu, còn nếu chưa nắm được yếu lĩnh kỹ thuật thì sẽ phân tích, làm mẫu lại cho học sinh. - Đối với sự sai do học sinh sợ hãi, thiếu quyết tâm...thì tôi động viên học sinh thích nghi dần với yêu cầu, cho học sinh làm quen với kỹ thuật động tác từ những bài tập đơn giản trước rồi sau đó mới nâng dần yêu cầu và trình độ. - Còn đối với sự sai do sự can thiệp của kỹ xảo cũ thì tôi lựa chọn, sắp xếp các bài tập phù hợp để sửa và yêu cầu học sinh phải nghiêm túc thực hiện. Ngoài ra tôi còn sử dụng một số bài tập để khắc phục những sai lầm đó cho học sinh (cụ thể như tôi đã trình bày ở phần trên). Trong quá trình học tập và sau mỗi đợt kiểm tra giáo viên sẽ điều chỉnh định lượng của bài tập sao cho phù hợp với thời gian và sự tiếp thu của học sinh. 1.2.6. Kiểm tra đánh giá chất lượng. Đối tượng thực nghiệm và đối chứng được tiến hành kiểm tra:. - Thời gian kiểm tra: ở 15 phút cuối của tiết học sau 3 tuần thực nghiệm và sau 6 tuần thực nghiệm; - Nội dung kiểm tra: kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt; 17
- - Hình thức kiểm tra: Đánh giá trực tiếp kỹ năng thực hiện kỹ thuật động tác của học sinh. Lần lượt gọi 2 học sinh (cùng giới tính- đứng đối diện nhau và cách nhau khoảng 2- 4m) lên thực kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, mỗi lượt kiểm tra diễn ra trong khoảng 1 phút. PHẦN C: MINH CHỨNG HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP Đối tượng thực nghiệm và đối chứng được tiến hành kiểm tra 3 lần. Lần 1- Trước thực nghiệm: Ở tiết học đầu tiên của kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng 2 tay trước mặt; Lần 2- Sau thực nghiệm 3 tuần: Cũng tiến hành kiểm tra kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng 2 tay trước mặt; Lần 3- Sau thực nghiệm 6 tuần: Tiếp tục kiểm tra kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. Sau khi tiến hành kiểm tra thì thu được kết quả như sau: Bảng 5: Kết quả kiểm tra 8C (35 em) 8B (34 em) Lớp Sau TN 3 Sau TN 6 Sau TN Sau TN 6 Trước TN Trước TN tuần tuần 3 tuần tuần SL % SL % SL % SL % SL % SL % Kết quả Đúng với kỹ thuật 14,3 28,6 14,7 50 94,1 5 10 17 48,6 5 17 32 cơ bản % % % % % Cơ bản đúng với kỹ thuật cơ bản nhưng 74,3 62,8 76,5 44,1 26 22 16 45,7 26 15 2 5,9% vẫn còn mắc một % % % % số sai lầm Không thực hiện 11,4 5,9 4 3 8,6% 2 5,7 3 8,8% 2 0 0% được động tác % % Qua bảng kết quả kiểm tra ở trên cho thấy: Khi chưa áp dụng biện pháp sửa sai thì đa số học sinh thực hiện kỹ thuật sai chiếm tỉ lệ rất cao 76,5%. Còn sau khi áp dụng biện pháp sửa sai thì đa số các em đã khắc phục được sai lầm của mình. Đặc biệt đối với biện pháp sửa sai 18
- mà tôi đã áp dụng trên đã đem lại hiệu rất khả quan. Sau 3 tuần áp dụng biện pháp sử dụng một số bài tập để sửa sai thì tỉ lệ học sinh thực hiện sai kỹ thuật động tác đã giảm từ 76,5% xuống còn 44,1% đến sau 6 tuần thì đã giảm xuống còn 5,9%. Như vậy sau 6 tuần thực nghiệm học sinh đã thực hiện được kỹ thuật động tác theo yêu cầu của giờ học, môn học- 100% học sinh thực hiện được kỹ thuật động tác, những sai lầm các em mắc phải cơ bản đã được khắc phục. Từ những kết quả biện pháp trên, tôi đi đến một số kết luận sau: 1.Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác nói chung, kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt nói riêng thì việc phát hiện ra những sai lầm thường mắc và nguyên nhân của nó để có biện pháp sửa sai phù hợp là rất cần thiết. Có như vậy mới nâng cao được chất lượng giảng dạy. 2. Qua nghiên cứu các tài liệu liên quan và sử dụng phương pháp phỏng vấn, vấn đáp, kiểm tra sư phạm tôi đã phát hiện ra được những sai lầm và tìm ra nguyên nhân để từ đó đưa ra biện pháp sửa sai phù hợp với đối tượng học sinh. Kết quả kiểm tra thực nghiệm cho thấy biện pháp sửa sai mà tôi áp dụng và trình bày trên đã sửa sai được hiệu quả. Hơn nữa khi sửa sai có sự kết hợp với hệ thống các bài tập bổ trợ kỹ thuật sẽ giúp các em nắm được yếu lĩnh kỹ thuật động tác từ đó các em có thể tự nhận ra mình sai ở đâu và sửa như thế nào. Với hệ thống bài tập khá mới mẻ và phong phú thì sẽ tránh được sự nhàm chán, tăng thêm hứng thú cho các em khi tham gia học tập, đem lại hiệu quả cao trong công tác giảng dạy kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn học. 3. Với những hình thức của biện pháp sửa sai và hiệu quả đạt được tại lớp thực nghiệm tôi có thể khẳng định: những hình thức của biện pháp sửa sai mà tôi thực hiện có thể áp dụng một cách có hiệu quả ở tất cả các lớp và có thể mở rộng ra các nội dung khác của môn học GDTC . 4. Tuy nhiên ở biện pháp này cũng có hạn chế đó là đối với những em thực hiện kỹ thuật tốt sẽ không có điều kiện để phát triển. * Kiến nghị 19

