Nâng cao hiệu quả dạy phát âm tiếng Anh cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

doc 61 trang Gia Hân 10/01/2026 100
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Nâng cao hiệu quả dạy phát âm tiếng Anh cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docnang_cao_hieu_qua_day_phat_am_tieng_anh_cho_hoc_sinh_thpt_ti.doc

Nội dung tài liệu: Nâng cao hiệu quả dạy phát âm tiếng Anh cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang

  1. CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MƠ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Nâng cao hiệu quả dạy phát âm tiếng Anh cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 9/2022 3. Các thơng tin cần bảo mật (nếu cĩ): khơng. 4. Mơ tả giải pháp cũ thường làm Trước khi áp dụng giải pháp, chúng tơi nhận thấy một thực trạng phổ biến là việc học sinh sau khi học tiếng Anh hết lớp 12 vẫn khơng thể phát âm đúng các từ tiếng Anh hoặc khơng thể tự tin giao tiếp bằng tiếng Anh khi đi du lịch hoặc tham gia các hoạt động cĩ yếu tố nước ngồi với nguyên nhân khơng biết phát âm các từ cần dùng như thế nào cho đúng. Trong các trường phổ thơng, việc dạy và học tiếng Anh vẫn đang dừng lại ở việc đáp ứng yêu cầu của các kì thi đặc biệt là khì thi THPT QG trước đây và nay là kì thi TN THPT mà ở đĩ khơng cĩ hoặc cĩ rất ít yêu cầu về việc phát âm đúng, phát âm chuẩn tiếng Anh cũng như việc giao tiếp thực tế hoặc thực hành kĩ năng nĩi tiếng Anh. Trong đề thi TN THPT cĩ bốn câu hỏi về phát âm là lựa chọn từ cĩ phần gạch chân phát âm khác phần gạch chân của các từ cịn lại (2 câu) và chọn từ cĩ vị trí trọng âm khác với các từ cịn lại (2 câu). Học sinh trả lời bốn câu hỏi này bằng việc nhìn vào các từ đã cho và lựa chọn theo suy đốn hoặc theo quy tắc đã được học. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến. Trong việc dạy và học tiếng Anh ở nhà trường phổ thơng hiện nay, cả giáo viên và học sinh đều quan tâm nhiều đến việc học và rèn luyện ngữ pháp, cách làm bài tập trắc nghiệm để đáp ứng các kì thi. Các kĩ năng nghe, nĩi, đọc, viết cũng được quan tâm nhưng chưa đủ, đặc biệt là việc dạy và sửa phát âm đúng cho học sinh cịn bị xem nhẹ. Nguyên nhân một phần ở việc giáo viên chưa tự tin vào việc phát âm chuẩn của mình và việc rèn phát âm cho học sinh là một quá trình cần nhiều thời gian. Trong khi đĩ việc phát âm chuẩn đĩng vai trị rất quan trọng trong 1
  2. giao tiếp bằng tiếng Anh dù ở bất kì lĩnh vực nào. Khi nghiên cứu về việc dạy và học phát âm tiếng Anh, các tác giả nhận thấy thực chất việc rèn phát âm cho học sinh khơng khĩ mà vấn đề cốt lõi là nhận thức của giáo viên và học sinh cũng như sự kiên trì trong học tập. Trên thực tế, hầu hết học sinh vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của phát âm, cộng với hạn chế khách quan về mơi trường giao tiếp. Về phía giáo viên, mặc dù đây khơng phải nội dung giảng dạy mới nhưng hiện tại cũng chưa cĩ tài liệu chuẩn để dạy ngữ âm nên phải tự tìm tịi nghiên cứu để phục vụ cho việc giảng dạy phát âm của mình nên nhiều khi đĩ là cả một vấn đề. Là các giáo viên trực tiếp giảng dạy cho học sinh bộ mơn Tiếng Anh nên các tác giả rất mong muốn được gĩp một phần nhỏ của mình cho cơng tác giảng dạy nĩi chung và đặc biệt về việc dạy phát âm cho học sinh nĩi riêng nhằm giúp học sinh cải thiện được kĩ năng nĩi Tiếng Anh của mình. Vì các lí do nêu trên, các tác giả đã tìm hiểu thực tế vấn đề, tập hợp kiến thức và đưa ra giải pháp cho đề tài “Nâng cao hiệu quả dạy phát âm tiếng Anh cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang”. Kết quả nghiên cứu, những giải pháp và sáng kiến sẽ giúp các thầy cơ giáo dạy tiếng Anh cĩ nguồn tài liệu phong phú phục vụ giảng dạy; các em học sinh cĩ nguồn tài liệu tự học hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cũng như chất lượng giao tiếp tiếng Anh của giáo viên và học sinh nhà trường. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Việc dạy và học phát âm tiếng Anh thiết nghĩ phải được quan tâm ngay từ khi người học bắt đầu việc học tiếng Anh. Từ những chữ cái, những âm vần đầu tiên cho đến từng từ, từng câu đều cần được chú trọng từ khi bắt đầu. Tuy nhiên với học sinh THPT hiện nay, ngồi một số ít học sinh quan tâm, rèn luyện phát âm tốt thì đại đa số cịn ngại và lười rèn luyện. Kết quả là khi phải nĩi trực tiếp hay khi làm bài tập liên quan đến ngữ âm đều khơng tự tin. Khi nghiên cứu về vấn đề này, bằng kinh nghiệm thực tế khi dạy học cũng như ơn thi cho học sinh, các tác giả mong muốn mang đến cho các thầy cơ giáo và các em học sinh một nguồn tài liệu hữu ích, đầy đủ về dạy và học phát âm từ đĩ giúp thầy cơ tự hồn thiện kĩ năng phát âm tiếng Anh của bản thân cũng như cĩ thể áp dụng được các hoạt động rèn kĩ năng phát âm cho học sinh. Khi học sinh phát âm chuẩn thì chất lượng giao tiếp, chất lượng bài thi của học sinh sẽ cải thiện đạt mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp. Các giải pháp của sáng kiến sẽ là nguồn tài liệu tham khảo rất phù hợp cho các thầy cơ trong việc dạy phát âm, dạy kĩ năng nĩi cho học sinh nhằm đáp ứng được 2
  3. yêu cầu về giao tiếp trong việc dạy và học tiếng Anh. Cụ thể: Giải pháp 1: Giải pháp 2: Trên cơ sở đọc và nghiên cứu tài liệu, giải pháp 2 của sáng kiến cung cấp kiến thức chuẩn hĩa về cấu âm, cách phát âm chuẩn các âm tiết trong tiếng Anh (từ nguyên âm, phụ âm cho đến linking sounds và trọng âm từ, trọng âm câu). Đây là nội dung mà hầu hết các thầy cơ đã bỏ qua hoặc khơng tìm hiểu sâu cũng như áp dụng vào cơng việc giảng dạy trên lớp 7. Nội dung sáng kiến 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến * Giải pháp 1: - Tên giải pháp: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học phát âm tiếng Anh trong trường THPT. - Nội dung: Với hệ thống lý thuyết chung cả về lí luận và thực tiễn của việc dạy và học phát âm tiếng Anh ở trường THPT. Những nội dung này bao gồm - Kết quả giải pháp 1: Hệ thống tồn bộ các nội dung về tầm quan trọng của việc dạy và học phát âm tiếng Anh, những yếu tố ảnh hưởng đến việc học và phát âm đúng tiếng Anh, thực trạng cũng như các chiến lược dạy học phát âm tiếng Anh trong trường THPT. (Chi tiết tại phụ lục số 1 – trang ) * Giải pháp 2: - Tên giải pháp: Kiến thức chung về ngữ âm trong tiếng Anh - Nội dung: Trong giải pháp này, các tác giả đã tổng hợp lại một cách chi tiết các kiến thức quan trọng và cần thiết về ngữ âm trong tiếng Anh nhằm mang lại cho các thầy cơ và học sinh tài liệu tham khảo chuẩn để rèn phát âm tiếng Anh. Từng âm tiết sẽ được miêu tả một cách chi tiết, cĩ hình ảnh minh họa cũng như các ví dụ điển hình, chọn lọc. Kể cả các âm khĩ như cặp âm, hay âm giĩ, âm rung cũng được miêu tả đầy đủ, giúp thầy cơ và học sinh cĩ thể tự rèn luyện theo một cách cĩ hiệu quả. Ngồi ra, trong giải pháp này, các tác giả cũng tổng hợp các quy tắc trọng âm cần thiết, giúp thầy cơ giáo cĩ nguồn tài liệu chuẩn để đưa vào bài giảng của mình ở trên lớp cũng như các tài liệu ơn thi. Phần nội dung cuối của giải pháp chính là kiến thức về một dạng thức phát âm phổ biến và quan trọng khi nĩi tiếng Anh nhưng hầu hết đều bị lãng quên trong các giờ học, đĩ là nối âm (linking sounds). Nối âm sẽ giúp người học tiếng Anh nĩi tiếng Anh một cách tự nhiên hơn và chính xác hơn. 3
  4. - Kết quả giải pháp 2: Muốn đọc đúng, phát âm chuẩn và nĩi hay cần cĩ hệ thống kiến thức chuẩn. Giải pháp số 2 mang lại cho các thầy cơ và các em học sinh phần quan trọng đĩ. Nếu kiến thức về cấu âm, về trọng âm, về nối âm được nghiên cứu, thực hành mơ phạm và luyện tập thường xuyên thì phản xạ phát âm và phản xạ nĩi của mỗi người học tiếng Anh, bao gồm cả giáo viên và học sinh đều được tăng lên một cách rõ rệt. (Chi tiết tại phụ lục số 2 – trang ... ) * Giải pháp 3 - Tên giải pháp: Một số hoạt động dạy và rèn phát âm cho học sinh ở trường THPT. - Nội dung: Các tác giả đã đề xuất 4 nhĩm biện pháp, 4 nhĩm hoạt động dạy và rèn phát âm cho học sinh ở trường THPT trong đĩ bao giờ cả các hoạt động riêng lẻ thực hện trên lớp, hoạt động tự rèn luyện tại nhà, cùng bạn học hoặc hoạt động ngoại khĩa. Cụ thể: 1- Dạy và học phát âm bằng các cặp tương đồng; 2 – Luyện phát âm theo video; 3 – Luyện phát âm với Tongue Twister (nĩi xoắn lưỡi); 4 – Hoạt động ngoại khĩa Ở tất các các giải pháp mà tác giả đề xuất đều được tiến hành kiểm chứng chất lượng thơng qua hoạt động thực nghiệm sư phạm từng phần và tồn phần tại trường THPT Chuyên – nơi nhĩm tác giả đang cơng tác, và áp dụng thực nghiệm tại trường THPT Ngơ Sĩ Liên; TH-THCS-THPT Mapple Leaf Academy, THPT Thái Thuận (TP Bắc Giang), THPT Yên Dũng số 2 và THPT Yên Dũng số 3 (Huyện Yên Dũng) – Tỉnh Bắc Giang - Kết quả giải pháp 3: Việc dạy và rèn phát âm cũng như kĩ năng nĩi cho học sinh thể tiến hành thơng qua nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau, trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn các dạng hoạt động của học sinh. Nhưng quan trọng nhất là phải xác định đúng đắn các biện pháp sử dụng. Những biện pháp được đề xuất trên cơ sở vận dụng linh hoạt các nguyên tắc dạy học tích cực. Do khuơn khổ của một sáng kiến kinh nghiệm, chúng tơi chỉ tập trung đi sâu phân tích một số biện pháp tiêu biểu và hiệu quả mang lại là hết sức thuyết phục. Những kết quả TN sư phạm từng phần và tồn phần khơng chỉ khẳng định tính khả thi của những biện pháp chúng tơi đã đề xuất mà cịn khẳng định tính đúng đắn của những giả thuyết sáng kiến đã đặt ra. 4
  5. (Chi tiết tại phụ lục số 3 – trang ... ) * Kết quả khi áp dụng 03 giải pháp của sáng kiến: Sau khi áp dụng giảng dạy sáng kiến đối với lớp 11, 12 cơ bản và lớp chuyên tiếng Anh cũng như trong ơn luỵện học sinh giỏi quốc gia năm học 2022 – 2023 và đã thấy cĩ sự tiến bộ về hứng thú và về chất lượng. Cụ thể: So sánh hứng thú, sự tích cực của HS trước và sau khi áp dụng giải pháp (kết quả đo lường bằng việc phỏng vấn HS của các lớp: 11 tin, 11 lý, 11 Anh, 12 sinh (Trường THPT Chuyên Bắc Giang); 10A10 (THPT Thái Thuận), 10A (THPT Mapple Leaf Academy), 10A7, 10A5 THPT Yên Dũng 2, 11A4 THPT Yên Dũng 3HS đội tuyển học sinh giỏi: quốc gia năm học 2022 - 2023 tổng số 250 HS, kết quả như sau Thái độ, hứng thú và sự tích cực với Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng việc học phát âm tiếng Anh giải pháp giải pháp Rất hứng thú 12% 20% Cĩ hứng thú một chút 35% 60% Khơng hứng thú 38% 20% Rất khơng hứng thú 15% 0% Cĩ thể thấy, giải pháp đưa ra đã cĩ hiệu quả rất tốt trong việc làm thay đổi hứng thú, sự tích cực, chủ động của HS trong việc rèn luyện phát âm và nĩi tiếng Anh. Kết quả thi học kì 1 năm học 2022-2023 kĩ năng nĩi của học sinh lớp 10A10 THPT Thái Thuận (bổ sung sau) Đối với học sinh đội tuyển HSG Quốc gia, kĩ năng nĩi đĩng vai trị quan trọng trong cấu trúc đề thi của HSG Quốc gia và một trong những tiêu chí chấm của kĩ năng này là độ chính xác trong đĩ cĩ việc nĩi đúng phát âm, đúng trọng âm và tự nhiên. Các giải pháp đã được ứng dụng một phần trong việc rèn luyện kĩ năng nĩi cho học sinh trong đội tuyển. Kết quả thi HSGQG năm học 2022-2023 tăng về số lượng và chất lượng giải, điểm kĩ năng nĩi của học sinh đều ở mức tốt. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Sáng kiến đã được áp dụng giảng dạy trong các giờ học của mơn tiếng Anh trong cả 3 khối 10, 11, 12; cả chương trình thí điểm cũ (lớp 11, 12) cũng như chương trình mới (lớp 10); đồng thời áp dụng ở cả các lớp chuyên tiếng Anh cũng 5
  6. như lớp khơng phải chuyên tiếng Anh và áp dụng với đội tuyển HSG quốc gia mơn tiếng Anh năm học 2021-2022, 2022-2023 tại trường THPT Chuyên Bắc Giang; áp dụng thực nghiệm giảng dạy tại các lớp 10, 11 của các trường THPT Ngơ Sĩ Liên, THPT Thái Thuận, TH-THCS-THPT Mapple Leaf Academy, THPT Yên Dũng số 2 và THPT Yên Dũng số 3 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên ở tại trường THPT chuyên Bắc Giang, THPT Ngơ Sĩ Liên; THPT Thái Thuận; TH-THCS-THPT Mapple Leaf Academy, THPT Yên Dũng số 2 và THPT Yên Dũng số 3, hiệu quả của sáng kiến đạt được như sau: Về lợi ích kinh tế Khi thực hiện áp dụng sáng kiến trên đây vào thực tiễn dạy và rèn phát âm cũng như kỹ năng nĩi cho học sinh ở các trường THPT; dạy lớp chuyên Anh; dạy Đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia cĩ thể nhìn thấy ngay một số lợi ích về mặt kinh tế mà sáng kiến mang lại, đĩ là: - Tiết kiệm thời gian, cơng sức của giáo viên khi tổ chức giảng dạy phần kiến thức này trên lớp, rèn kĩ năng khai thác tài liệu, tự học, tự tìm kiếm tài liệu và tự rèn luyện cho học sinh. - GV cĩ thể sử dụng phần lý luận của sáng kiến kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng các giải pháp rèn luyện, phát triển năng lực cho HS sang nghiên cứu những nội dung khác liên quan đến giảng dạy kĩ năng nĩi tiếng Anh. - Những giải pháp được nêu trong sáng kiến cĩ thể trở thành tư liệu tham khảo để HS tự học, tự rèn tại nhà. Qua đĩ tiết kiệm được chi phí đi lại, các khoản chi cho việc mua tài liệu tham khảo - Thực hiện sáng kiến này chính là một điều kiện, một cơ hội để GV tự tìm hiểu tài liệu, cập nhật thơng tin tri thức mới, củng cố kiến thức chuyên mơn từ đĩ nâng cao năng lực, phẩm chất cá nhân. Việc GV khơng ngừng tự trau dồi nâng cao năng lực, chuyên mơn nghiệp vụ ở một khía cạnh nào đĩ cũng cĩ thể xem là tiết kiệm kinh phí cho cơng tác tập huấn, đào tạo lại. Lợi ích xã hội - Hướng tới một trong những mục tiêu của Đề án Ngoại Ngữ quốc gia 2020 nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, đảm bảo học sinh cĩ thể tự tin nĩi tiếng Anh, giao tiếp bằng tiếng Anh như người bản xứ, việc dạy và rèn phát âm chuẩn cho học sinh ngay từ những bài học nhỏ trên lớp là một hoạt động tất yếu và mang 6
  7. lại những hiệu quả khơng hề nhỏ. Nĩ đĩng vai trị tiên quyết trong việc học sinh cĩ tự tin nĩi tiếng Anh hay khơng. Sẽ khơng cịn những rụt rè, e ngại khi phát âm sai, khi khơng nĩi đúng trọng âm để diễn đạt đúng ý muốn của người nĩi. Dần dần, học sinh sẽ tự tin trình bày các vấn đề xã hội trước đám đơng, trong các hội nghị quốc tế để nâng tầm vị trí của thanh niên Việt Nam trên trường quốc tế. - Sáng kiến kinh nghiệm này cũng là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên mơn, đĩng gĩp hiệu quả cho cơng tác giáo dục mơn tiếng Anh bậc THPT. * Cam kết: Chúng tơi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và khơng sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến Thân Thị Ngọc Thủy – Mai Thu Giang 7
  8. Phụ lục số 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÁT ÂM TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT 1 Cơ sở lý luận 1.1. Tầm quan trọng của việc phát âm đúng tiếng Anh Một sai lầm phổ biến được thực hiện bởi nhiều học sinh quốc tế học tiếng Anh như một ngơn ngữ thứ hai là khơng chú ý đầy đủ đến phát âm tiếng Anh. Việc đánh giá thấp tầm quan trọng của cách phát âm này chủ yếu là do học sinh cĩ khuynh hướng nghĩ nhầm rằng cách phát âm ít quan trọng hơn so với các khía cạnh khác của ngơn ngữ tiếng Anh như ngữ pháp, từ vựng và từ vựng. Phát âm chính xác là điều bắt buộc đối với bất kì người học ngoại ngữ nào khơng chỉ riêng tiếng Anh bởi vì cĩ phát âm chính xác thì người nghe mới cĩ thể hiểu được những gì mà người nĩi phát âm. Nếu phát âm sai một từ hay thậm chí chỉ là một âm thì sẽ làm cho người nghe hiểu sai ý của người nĩi. Do đĩ việc phát âm đúng tiếng Anh rất quan trọng khơng chỉ trong giao tiếp mà cịn trong văn hĩa. Thứ nhất, phát âm đúng tiếng Anh làm tăng hiệu quả giao tiếp và tránh bị hiểu lầm. Khi nĩi một ngoại ngữ, bạn sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tiếng mẹ đẻ. Chính vì vậy mà người Ấn Độ nĩi tiếng Anh nghe sẽ khác, người Việt nam nĩi tiếng Anh nghe sẽ khác, người Pháp nĩi tiếng Anh nghe sẽ khác. Trừ khi bạn bắt chước được "accent" của Anh hoặc Mỹ, tiếng Anh của bạn sẽ khơng thể nào nghe 100% như người bản xứ được. Mà việc nĩi một thứ tiếng, mục tiêu quan trọng nhất là đạt được mục đích giao tiếp, tức là làm cho đối phương hiểu mình đang nĩi gì. Vì vậy, nếu bạn phát âm đủ chuẩn, đúng và rõ ràng, đối phương sẽ cĩ thể dễ dàng tiếp thu hơn là nghe một người khơng phải bản xứ ("non-native") vừa bị ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ vừa phát âm sai. Hơn nữa việc phát âm sai sẽ dẫn đến những hiểu nhầm về mặt ý nghĩa. Cĩ thể đơn cử ra đây một số ví dụ như sau. Nếu người học tiếng anh phát âm các từ như fog và fox; sea và she; sick và six mà khơng cĩ sự khác nhau nào trong phát âm các âm đầu và cuối /k/, /s/, / ʃ/ thì hồn tồn cĩ thể dẫn đến sự nhiểu nhầm. Khi muốn nĩi rằng “Tơi ốm.” (I’m sick.) nhưng bạn lại khơng bật âm cuối /k/ thì người nghe cĩ thể hiểu là “I’m six.” (Tơi 6 tuổi). Một vi dụ nữa như sau: Nếu như trong tiếng việt chúng ta cĩ chữ “ch”, “tr” thì trong tiếng Anh cĩ âm /s/, /ʃ/. Khi phát âm câu sau: God save me! Thì chữ “save” (cứu 8
  9. rỗi) được phát âm là /seiv/ nhưng nếu bạn phát âm sai am /s/ thành âm /ʃ/ thì người nghe cĩ thể hiểu nhầm “save” thành “shave” (cạo râu) và khi đĩ trở thành câu “God shave me!” (Chúa cạo râu cho tơi). Lúc này mục đích giao tiếp đã hồn tồn thất bại. Thứ hai, phát âm đúng tiếng Anh giúp người học nĩi chung tự tin hơn trong giao tiếp từ đĩ tăng hiệu quả cơng việc. Một nhân viên văn phịng nếu chỉ nắm chắc về mặt ngữ pháp, biết nhiều từ vựng nhưng khơng thể phát âm hay phát âm khơng đúng tiếng Anh chắc chắn trong việc giao tiếp với đồng nghiệp với đối tác sẽ khơng được tự tin từ đĩ làm giảm hiệu suất cơng việc. Hơn nữa nếu phát âm đúng thì kĩ năng nghe và nĩi tiếng Anh sẽ được cải thiện và phát triển tốt. Đối với giáo viên và học sinh, phát âm đúng tiếng Anh cĩ vai trị quan trọng khơng kém. Việc hội nhập thế giới khơng chỉ đúng với các ngành kinh tế chính trị mà với cả giáo dục. Cơng nghệ 4.0 ngày càng phát triển địi hỏi giáo viên và học sinh dần dần phải hồn thiện kĩ năng phát âm tiếng Anh để tự tin vươn ra thế giới. Học sinh Việt Nam ngày càng tham gia nhiều các kì thi quốc tế mà ở đĩ tiếng Anh là cơng cụ giao tiếp và làm việc hiệu quả nhất. Bài thi bằng tiếng Anh, các bạn thí sinh và các thầy cơ giáo đến từ các nước khác nhau và chỉ giao tiếp bằng tiếng Anh Khi đĩ biết phát âm tiếng Anh đúng là một lợi thế rất lớn. Thứ ba, phát âm đúng tiếng Anh thể hiện sự tơn trọng văn hĩa quốc gia. Mỗi nước khác nhau lại cĩ một nền văn hĩa và thứ ngơn ngữ riêng. Nĩi cách khác, ngơn ngữ như là một thứ tài sản riêng của dân tộc, của quốc gia đĩ. Khi chúng ta học ngơn ngữ mà cụ thể ở đây là tiếng Anh và phát âm chuẩn thứ ngơn ngữ đĩ, chúng ta đã thế hiện thái độ tiếp cận ngơn ngữ, tiếp cận văn hĩa của một nước. Việc cố gắng phát âm đúng chính là cách thể hiện sự thiện chí và tơn trọng của mình với ngơn ngữ và với đất nước đĩ. 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc học phát âm tiếng Anh 1.2.1. Trọng âm, ngữ điệu và nhịp điệu Munro và Derwing (1999) cho rằng những người nĩi tiếng Anh với giọng địa phương đặc trưng thì đơi khi vẫn cĩ thể hiểu được và nếu họ mắc lỗi về ngơn điệu chẳng hạn như nĩi sai trọng âm, ngữ điệu hay nhịp điệu thì sẽ khiến người nghe khĩ hiểu được ý của họ hơn là mắc các lỗi về ngữ âm (phát âm sai các âm đơn lẻ). Chính vì thế, việc nghiên cứu hay giảng dạy về phát âm cần tập trung vào cả phần ngữ âm (nguyên âm và phụ âm) và các đăc điểm siêu đoạn tính, đĩ là trọng âm, 9
  10. ngữ điệu và nhịp điệu. Những đơn vị siêu đoạn tính này cĩ ảnh hưởng rất nhiều đến biểu thái, làm nổi bật thơng tin, ngữ nghĩa, giúp phân định từ loại trong quá trình diễn ngơn, hành chức qua từng ngơn cảnh, tình huống cụ thể. Trong một câu, những từ được nhấn trọng âm thì thường phát âm to hơn và chậm hơn những từ cịn lại. Trọng âm câu rất quan trọng, vì khi nĩi, từ mà người nĩi nhấn trọng âm cũng như cách mà họ đánh trọng âm vào cùng một từ cĩ thể làm thay đổi hồn tồn nghĩa hàm chứa trong câu nĩi. Ví dụ: I’m in the classroom. (Tơi chứ khơng phải ai khác đang ở trong lớp học.) I’m in the classroom. (Tơi đang ở trong lớp học chứ khơng phải ở nơi nào khác.) Ngồi ra, người nĩi cịn phải chú ý tới nhịp điệu bởi vì nếu sai nhịp điệu thì nhĩm ngữ nghĩa dễ bị phá vỡ (khiến người tiếp thu phát ngơn khĩ hiểu hoặc khơng thể hiểu dụng ý của chủ ngơn); và ngữ điệu vì nếu sử dụng khơng đúng ngữ điệu thì phát ngơn cĩ thể bị hiểu sai, hoặc khĩ hiểu. Các nhà ngơn ngữ học phân chia các ngơn ngữ trên thế giới thành 2 loại: stress-timed và syllable-timed. Tiếng Anh là một ngơn ngữ cĩ trọng âm cách quãng đều nhau (stress-timed language) với các mơ hình nhịp điệu dựa trên sự lặp lại thường xuyên trong các âm tiết cĩ trọng âm. Ví dụ: Tom runs fast. (ba âm tiết in đậm được nhấn trọng âm) Meredith can run fast. (Ba âm tiết in đậm: Mer, run và fast là ba âm tiết mang trọng âm) Chúng ta mất hầu như cùng một lượng thời gian để nĩi mỗi câu trên bởi vì cả hai câu trên đều cĩ ba âm tiết mang trọng âm mặc dù tổng số âm tiết trong mỗi câu khơng như nhau. Cũng chính vì đặc điểm này mà trong Tiếng Anh những nguyên âm trong những âm tiết khơng mang trọng âm sẽ bị nhược hố thành âm shwa /ə/ (e.g. supply /səˈplaɪ/; sofa /ˈsoʊfə/). Những âm tiết khơng mang trọng âm thường được nĩi nhanh hơn và xảy ra hiện tượng nuốt âm. Ví dụ: I want to go to the park /aɪ wɑnə goʊ tə ðə pɑ:k/ Trong tiếng Anh các từ chức năng như mạo từ, giới từ và trợ động từ thường khơng mang trọng âm và là dạng yếu. Các từ nội dung (content words) như danh 10
  11. từ, tính từ, trạng từ, động từ chính thường mang trọng âm và là dạng mạnh. Chính vì sự tồn tại của hai loại âm tiết cĩ trọng âm và khơng cĩ trọng âm trong một câu đã tạo nên nhịp điệu khi nĩi. Trong khi đĩ, tiếng Việt cĩ xu hướng cân bằng mỗi âm tiết, tạo thành các mơ hình nhịp điệu của ngơn ngữ đơn tiết cách quãng đều nhau (syllable-timed), là các âm tiết cĩ trọng lực cân bằng. Vì thế, khi nĩi tiếng Việt khơng cĩ hiện tượng nuốt âm. Do ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ nên học sinh Việt hầu như phát âm tất cả các âm tiết trong một câu tiếng Anh với trọng âm lực và trọng âm lượng như nhau. Việc phân biệt rõ sự khác nhau giữa hai loại ngơn ngữ cĩ trọng âm, cường độ của các âm tiết trong từ hồn tồn khơng giống nhau và loại ngơn ngữ cĩ sự cân bằng về cường độ của các âm tiết sẽ giúp giáo viên thiết kế những bài tâp phát âm phù hợp với học sinh Việt Nam. Chính vì đặc tính ngơn ngữ này của tiếng Anh, giáo viên cần dành thời gian dạy học sinh quy tắc về trọng âm, ngữ điệu, nhịp điệu và cách phát âm các âm đơn lẻ - những âm khĩ đối với học sinh. 1.2.2. Động cơ học tập Theo Gardner (1985) động cơ bao gồm bốn khía cạnh, đĩ là mục tiêu, sự nỗ lực, sự mong muốn đạt được mục tiêu đĩ và thái độ tích cực đối với hoạt động đang được nĩi đến. Ames & Ames (1989) định nghĩa động cơ là sự thúc đẩy để tạo ra và duy trì những ý định và các hành động tìm kiếm mục tiêu. Như vậy, động cơ quan trọng vì nĩ quyết định mức độ tham gia và thái độ tích cực của học sinh đối với việc học. Thật thú vị khi biết rằng, nhiều nhà nghiên cứu đã xem động cơ là một trong những yếu tố chính quyết định sự thành cơng trong sự phát triển ngơn ngữ thứ hai/ngoại ngữ. Oxford và Shearin (1994) cho rằng động cơ (motivation) quyết định mức độ tích cực tham gia của cá nhân vào việc học ngơn ngữ thứ hai. McDonough (1981) cũng tin tưởng rằng động cơ quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự thành cơng hay thất bại của người học ngoại ngữ. Ngồi ra, động cơ là nhu cầu về sự hồn thành và thành cơng, sự tị mị, sự mong muốn được khuyến khích và cĩ những trải nghiệm mới. Vì thế, nếu người học được tạo động cơ để học ngơn ngữ thì người học chắc chắn sẽ thành cơng. Gass và Selinker (1994) cũng cĩ quan điểm tương tự rằng nếu người học cĩ động cơ thì họ sẽ học nhanh hơn và ở mức độ lớn hơn. Như vậy, dựa vào các định nghĩa trên, động cơ cĩ thể được định nghĩa một cách vắn tắt như sau: động cơ bao gồm mục tiêu, sự cố gắng, nghị lực, sự tham gia tích cực và sự kiên trì của người học. 11
  12. Các nghiên cứu cho rằng những người học tiếng Anh vì mục đích nghề nghiệp hay để đáp ứng mục đích cá nhân nào đĩ thì luơn mong muốn cĩ thể phát âm giống như người bản ngữ. Theo nghiên cứu của Marinova-Todd et al (2000) về quá trình thụ đắc tiếng Anh ở độ tuổi trưởng thành, người trưởng thành cĩ thể nĩi thành thạo tiếng Anh nếu như họ học cĩ mục đích. Ngồi ra, Moyer (2007) kết luận rằng quá trình sử dụng ngơn ngữ và định hướng tích cực trong khi học là yếu tố quan trọng trong thúc đẩy người học cố gắng luyện phát âm như người bản ngữ. Bên cạnh việc tập trung vào dạy phát âm và luyện accent trên lớp, giáo viên nên khuyến khích học sinh luyện nĩi tiếng Anh bên ngồi lớp học và giao bài tập luyện nĩi ở nhà cho họ. 1.2.3. Thái độ học tập Thái độ học tập là một trong những yếu tố cĩ ảnh hưởng sâu sắc đến sự thành cơng trong việc học ngoại ngữ nĩi chụng và tiếng Anh nĩi riêng. Nếu người học học tiếng Anh với mục đích cụ thể cùng với thái độ học tập tích cực thì họ sẽ thành cơng nhanh hơn và duy trì khả năng thành thạo ngộn ngữ đĩ trong khoảng thời gian dài hơn những người khơng cĩ động cơ học tập cũng như thái độ thờ ơ với việc học. Gardner và Lambert (1972) định nghĩa thái độ là sự bền bỉ mà người học thể hiện để theo đuổi một mục tiêu. Trong khi đĩ theo Brown (1980), thái độ là niềm tin của người học đối với cộng đồng sử dụng ngơn ngữ đĩ và nền văn hố của họ. Thái độ học tập cĩ mối liên hệ mật thiết đối với động cơ học tập. Thái độ đối với việc học ngoại ngữ là một yếu tố thúc đẩy người học cố gắng hết sức mình để đạt được mục đích. Ngược lại, động cơ ảnh hưởng đến thái độ của người học. Những người học cĩ động cơ bên ngồi hoặc bên trong sẽ cĩ thái độ học tập tích cực hơn những người khơng cĩ động cơ hay những người xem việc học là nhiệm vụ bắt buộc. Thực tế cho thấy, những người thực sự mong muốn hay quan tâm đến việc cải thiện kỹ năng phát âm của mình thì chắc chắn họ sẽ phát âm tốt hơn những người khác, thậm chí họ cĩ thể bắt chước phát âm giống người bản ngữ. 1.2.4. Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ Người học tiếng Anh là ngơn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ thuộc nhiều quốc gia trên thế giới sẽ gặp những khĩ khăn khác nhau trong việc học phát âm chuẩn tiếng Anh. Khĩ khăn mà họ gặp phải phụ thuộc vào tiếng mẹ đẻ của họ khác ngơn ngữ 12
  13. tiếng Anh như thế nào. Chẳng hạn, tiếng Việt, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp là ngơn ngữ cĩ sự cân bằng về cường độ của các âm tiết. Các âm tiết trong một từ đều phát âm với một lực bằng nhau. Trong khi đĩ, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Thái là ngơn ngữ cĩ trọng âm cách quãng dều nhau. Điều đĩ cĩ nghĩa là, thời gian phát âm giữa các âm tiết cĩ trọng âm bằng nhau vì các âm tiết khơng cĩ trọng âm sẽ được nĩi nhanh hơn và sẽ xảy ra sự nuốt âm. Người học cĩ thể gặp khĩ khăn khi phát âm một số âm tiếng Anh vì những âm này tiếng mẹ đẻ của họ khơng cĩ. Ví dụ thứ nhất, người Việt rất hay phát âm sai phụ âm /ð/ và /θ /. Hai phụ âm này được phát âm bằng cách đặt lưỡi giữa hai hàm răng, luồng hơi từ từ thốt ra qua khe hở rất hẹp giữa mặt lưỡi và hàm răng trên. Ngồi ra, do sự khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh mà người Việt khi nĩi tiếng Anh thường khơng cĩ trọng âm từ cũng như trọng âm câu, khơng cĩ ngữ điệu, v.v. Ví dụ thứ hai, cĩ thể thấy rõ ràng là tiếng Việt khơng cĩ âm cuối (ending sound), trong khi đĩ các từ của tiếng Anh cĩ âm cuối và nhiều từ âm cuối cần được phát âm rõ ràng. Ví dụ từ “cầm” trong tiếng Việt khơng được phát âm là cầm + mờ. Từ “food” (thức ăn) trong tiếng Anh cần được phát âm là /fu:d/ (cĩ âm /d/ cuối), nếu khơng phát âm được âm cuối /d/ thì người nghe cĩ thể hiểu nhầm thành từ foot / fut/ (bàn chân). Ngồi ra, trong tiếng Việt khơng cĩ sự nối âm (linking sound). Khi nĩi “cảm ơn” trong tiếng Việt là hai tiếng “cảm” và “ơn” được tách rời. Trong tiếng Anh, hiện tượng nối âm (linking sounds) khá phổ biến (cụ thể sẽ được trình bày ở phần sau). Để cĩ thể giúp học sinh phát âm chuẩn tiếng Anh thì giáo viên phải nắm rõ sự khác nhau giữa ngơn ngữ đích và ngơn ngữ nguồn. Từ đĩ, tìm ra khĩ khăn họ gặp phải khi học phát âm là gì. Trên cơ sở đĩ, thiết kế các bài tập phát âm phù hợp để khắc phục các khĩ khăn của họ, giúp họ ngày càng cải thiện kỹ năng phát âm của mình. 1.2.5. Độ tuổi Độ tuổi cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự thành cơng trong học ngoại ngữ. Nhiều nghiên cứu chứng minh việc bắt đầu học ngoại ngữ sớm thì càng nhanh thành thạo. Điều này cĩ nghĩa là người học ở độ tuổi càng trẻ thì họ học phát âm càng dễ thành cơng và nhanh hơn. Tuy nhiên, điều này khơng cĩ nghĩa người ở độ tuổi trưởng thành thì khơng học được ngoại ngữ và khơng thể nĩi giống người bản ngữ mà chỉ là họ phải học chăm chỉ hơn, đầu tư nhiều thời gian hơn thì mới cĩ thể nĩi thành thạo được. 13
  14. 2 Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng dạy và học phát âm tiếng Anh của giáo viên và học sinh trong trường THPT Trong chương trình giáo dục phổ thơng cũ, giáo viên và học sinh chỉ nhìn thấy những nội dung về từ vựng, ngữ pháp, bài đọc hiểu, viết câu mà khơng thấy sự hiện diện của ngữ âm (phát âm và trọng âm ). Do đĩ, cả giáo viên và học sinh khi bắt đầu dạy và học tiếng Anh đều từ chữ cái A, B, C và động từ to be mà khơng hề cĩ kế hoạch giảng dạy về phát âm cho học sinh. Từ đĩ đã hình thành một giai đoạn mà ý thức về tầm quan trọng của việc dạy ngữ âm cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Khi đĩ, giáo viên chỉ dạy học sinh đọc một từ đúng theo cách đọc của giáo viên, theo từ điển mà học sinh hồn tồn khơng hiểu và khơng được dạy trong tiếng Anh âm là thế nào, tại sao lại phát âm từ này như thế này và từ khác lại phát âm khác. Khi chương trình đổi mới giáo dục đặc biệt là chương trình giáo dục ngoại ngữ về tăng cường tính giao tiếp, người ta đã thấy hiện diện trong sách giáo khoa một phần Pronunciation. Tuy nhiên trên thực tế, việc dạy và học phát âm của giáo viên và học sinh trong trường THPT chưa đạt được hiệu quả cao. Khi đi dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp trong và ngồi nhà trường, các tác giả nhận thấy rằng, việc dạy phát âm cho học sinh vẫn chỉ được thực hiện một cách qua loa, hình thức và theo phương pháp cổ truyền: giáo viên đọc mẫu, trị đọc theo. Chỉ cĩ điều học trị biết được đĩ là từ cĩ âm gì, nguyên âm hay phụ âm. Tuy nhiên, học ngoại ngữ việc luyện tập rất quan trọng. Nếu chỉ xác định được cái vỏ âm thanh mà khơng hiểu được cấu âm của nĩ, khơng luyện tập thì kiến thức đĩ sẽ nhanh chĩng khơng cịn nữa. Do đĩ, việc xây dựng các hoạt động dạy và rèn phát âm cho học sinh trở nên vơ cùng cấp thiết. Với mỗi âm, học sinh cần được dạy cấu âm, các chữ cái đại diện, các ngoại lệ nếu cĩ, và luyện tập phân biệt âm đĩ với âm khác gần tương tương (ví dụ như các cặp nguyên âm ngắn/ dài). Hơn nữa, tiếng Anh như đã nĩi ở trên là thứ ngơn ngữ đa âm tiết, do vậy ngồi phát ra các âm thanh chính xác thì mỗi từ cịn cĩ trọng âm của nĩ và tương tự như vậy với các câu. Cĩ thể dễ dàng nhận thấy với mỗi lần đọc đồng thanh của học sinh theo các từ giáo viên phát âm tất cả trọng âm, âm cuối của từ đều đã được làm biến mất. Các âm được học sinh phát âm với cao độ, trường độ như nhau, tạo ra một chuỗi âm thanh đều đều khơng cĩ dấu nhấn. Thĩi quen đĩ của học sinh cĩ 14
  15. tác động xấu đến việc nĩi tiếng Anh trong giao tiếp của học sinh. Do đĩ, giáo viên cần lưu ý để chỉnh sửa cho học sinh, đưa các em về quỹ đạo và thĩi quen phát âm đúng. Thực trạng của việc học và rèn luyện của học sinh khơng hiệu quả và lệch lạc như vậy nhưng việc dạy phát âm của giáo viên cũng khơng phải khơng cĩ vấn đề. Rất ít giáo viên THPT chú trọng đến việc thiết kế các hoạt động dạy và rèn phát âm cho học sinh. Thậm chí nhiều giáo viên cịn cổ xúy cho việc làm dễ cách phát âm tiếng Anh bằng cách cho học sinh ghi phiên âm bằng tiếng Việt hoặc bỏ qua khi học sinh khơng phát âm đúng, học sinh chưa cố gắng phát âm đúng. Điều này vơ tình đã làm cho việc học và rẻn luyện phát âm của học sinh ngày càng đi xuống. Khi đĩ, cả giáo viên và học sinh đã mất hứng thú và động lực để dạy và học phát âm. Dạy và học cũng như rèn phát âm tiếng Anh cho học sinh là một việc làm cần nhiều thời gian và cơng sức. Tuy nhiên, thời lượng giảng dạy phát âm trên lớp cho học sinh khơng nhiều và đan xen vào tất cả các giờ dạy kĩ năng, nên giáo viên chỉ cần chú ý một chút đến việc thiết kế các hoạt động nhỏ để học sinh cĩ thể rèn được phát âm của mình trong mỗi tiết học cũng đã mang lại hiệu quả khơng nhỏ trong việc dạy và học phát âm tiếng Anh. Ngồi ra, giáo viên và học sinh hồn tồn cĩ thể dựa vào các nguồn tài liệu trực quan, sử dụng lược đồ tư duy, các video clip dạy phát âm của người bản xứ để làm hoạt động trong cũng như ngồi giờ học. Thêm vào đĩ, việc thiết kế các hoạt động giao tiếp trong và ngồi lớp học cũng giúp phát triển kĩ năng phát âm cho học sinh một cách hiệu quả. 2.2. Các chiến lược giảng dạy phát âm tiếng Anh 2.2.1. Xác định các đặc điểm phát âm đặc trưng gây khĩ khăn cho người học Các nhà ngơn ngữ học đã sử dụng phương pháp phân tích đối chiếu để xác định những khĩ khăn tiềm ẩn đối với người học ngơn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ. Đây là cách phổ biến vào những năm 1950 và 1960. Giả thuyết phân tích đối chiếu cho rằng những khĩ khăn mà người học gặp phải trong quá trình học ngơn ngữ cĩ thể dự đốn trước được bằng cách phân tích đối chiếu các đặc điểm của ngơn ngữ đích và ngơn ngữ nguồn. Các nhà ngơn ngữ cĩ thể phân loại được các đặc điểm cúa nhiều ngơn ngữ trên thế giới, nhưng họ khơng thể dự đốn một cách hệ thống những khía cạnh nào của tiếng Anh sẽ gây khĩ khăn cho người học. Chính vì thế, 15
  16. một giả thuyết khác ra đời tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng xuyên ngơn ngữ đã khẳng định các kinh nghiệm về ngơn ngữ trước đĩ chỉ ảnh hưởng đến cách học một ngơn ngữ chứ nhìn chung khơng thể dự báo trước các khĩ khăn của người học. Trên cơ sở của giả thuyết này, các nhà ngơn ngữ đã phát triển những danh sách các âm mà người học tiếng Anh cĩ thể gặp khĩ khăn khi phát âm. Chẳng hạn: người nĩi ngơn ngữ châu Á cĩ thể gặp khĩ khăn khi phát âm các âm /l/ và /r/ trong tiếng Anh; người nĩi tiếng Tây Ban Nha lại khĩ khăn khi phát âm /sh/ và /ch/. Các kiến thức nền tảng cụ thể của ngơn ngữ như thế này hiện nay đã được miêu tả chi tiết trong sách dạy phát âm như Sounds Right (Braithwaite, 2008) hay ở các chương trình phần mềm dạy phát âm như American Speech Sounds (Hiser & Kopecky, 2009). Giáo viên cĩ thể nhận ra những khĩ khăn mà học sinh gặp phải khi phát âm bằng cách quan sát họ giao tiếp với nhau trên lớp. Trên cơ sở đĩ, tập trung giảng dạy những đặc điểm phát âm mà khiến họ mắc lỗi khi phát âm trên lớp để giúp họ hiểu và nắm vững các quy tắc đĩ. Đặc biệt, khi học sinh thuyết trình hay giao tiếp theo nhĩm hay cặp, giáo viên nên sử dụng checklist để ghi chép lại lỗi phát âm riêng biệt của từng cá nhân hay lỗi giống nhau mà nhiều học sinh mắc phải. Sau đĩ, giáo viên sẽ làm rõ những lỗi như thế này ở các tiết học sau đĩ để giúp họ khơng mắc lỗi nữa. Bản ghi chép này cũng cĩ thể được sử dụng để giúp học sinh chú ý đến những đặc điểm phát âm đặc trưng trong tiếng Anh cĩ thể gây khĩ hiểu cho họ. Ngồi ra, giáo viên và học sinh cĩ thể kết hơp để tạo ra một bản profile về phát âm bao gồm tĩm tắt các âm và mơ hình ngữ điệu và trọng âm mà người học đã phát âm chuẩn; những lỗi cần phải khắc phục và bảng hỏi về việc họ sử dụng tiếng Anh khi nào và như thế nào. Bảng profile như thế này sẽ giúp cho học sinh phát triển được mục tiêu phát âm của mình và cĩ thể kiểm tra được sự tiến bộ để đạt được mục tiêu đĩ. 2.2.2. Giúp học sinh chú ý tới các đặc điểm ngơn điệu của ngơn ngữ Trọng âm từ, ngữ điệu và nhịp điệu là các đặc điểm ngơn điệu của ngơn ngữ. Những đặc điểm này rất quan trọng giúp người nghe cĩ thể hiểu được chính xác ý của người nĩi. Vì thế, giáo viên nên đưa các đặc điểm này vào chương trình giảng dạy và cĩ thể dạy thơng qua các hoạt động nghe giúp học sinh nắm vững các nguyên tắc về trọng âm, ngữ điệu cũng như nhịp điệu trong tiếng Anh. Ví dụ: giáo viên cho học sinh nghe các bài hội thoại hoặc xem các video sử dụng các câu hỏi 16
  17. Yes/ No với ngữ điệu lên, rồi so sánh ngữ điệu này của tiếng Anh với tiếng mẹ đẻ của họ. Sau đĩ, bắt chước theo đúng ngữ điệu và thực hành theo cặp. Chỉ cĩ thực hành nhiều lần kết hợp với học thuộc các nguyên tắc về đặc điểm ngơn điệu thì học sinh mới khắc phục được các lỗi phát âm ngơn điệu, từ đĩ cĩ thể đạt được hiệu quả trong giao tiếp. 2.2.3. Chú trọng phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Mục tiêu của quá trình dạy và học phát âm là giúp học sinh đạt được sự thành thạo trong giao tiếp, chứ khơng phải là để làm biến mất hồn tồn giọng đặc trưng vùng miền của họ. Các bài tập thực hành giao tiếp trên lớp nên chú trọng cả vào phần luyện phát âm. Giáo viên cĩ thể sử dụng các bài tập luyện phát âm mang tính giao tiếp, tức là các bài tập này chứa các từ ngữ thơng dụng trong giao tiếp hàng ngày. Ví dụ: giáo viên yêu cầu học sinh đĩng vai đưa ra các yêu cầu hay đề nghị mà họ vẫn thường dùng hàng ngày như xin gọi mĩn ăn, đồ uống trong nhà hàng, quán cà phê; hỏi và chỉ đường; hay yêu cầu giao dịch viên ngân hàng cho đổi mật khẩu thẻ ATM khi cần... Như vậy, khi tham gia vào các cuộc đối thoại trực tiếp học sinh vừa chủ động là người nĩi vừa là người nghe rất chăm chú. Theo Pit (2009), học sinh nên tiếp xúc nhiều các cuộc đối thoại để cĩ thể nghe được nhiều biến thể trong phát âm tiếng Anh và sau đĩ cĩ khả năng sử dụng đựơc các biến thể đĩ một cách phù hợp trong các tình huống ngơn ngữ tương ứng. Giáo viên cĩ thể sử dụng trên lớp băng đài hoặc băng ghi hình phát các giọng điệu tiếng Anh khác nhau như tiếng Anh- Anh, Anh- Mỹ, Anh-Úc, Anh- Sing... để tạo cơ hội cho học sinh được tiếp xúc và làm quen với các biến thể tiếng Anh giúp họ nâng cao khả năng giao tiếp của mình. 17
  18. Phụ lục số 2 Kiến thức chung về ngữ âm tiếng Anh 1 Các âm trong tiếng Anh Nhằm thể hiện các âm tiết trong ngơn ngữ một cách chính xác, các nhà ngơn ngữ học đã phát minh ra bảng phiên âm tiếng Anh IPA (hệ thống các ký hiệu ngữ âm). Giáo viên và học sinh cần biết cách sử dụng International Phonetic Alphabet viết tắt IPA là bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế để hiểu rõ cách phát âm của tiếng Anh mà khơng phải nhìn vào mặt chữ của từ đĩ. Hệ thống phiên âm IPA gồm 44 âm cơ bản, trong đĩ bao gồm 20 nguyên âm và 24 phụ âm. Ký hiệu: • Vowels – Nguyên âm • Consonants: Phụ âm • Monophthongs: Nguyên âm ngắn • Diphthongs: Nguyên âm dài 18
  19. 1.1. Nguyên âm (vowels) 1.1.1. Nguyên âm đơn (monothongs) Stt Âm Cách phát âm Hình minh họa Chữ viết Ví dụ thường gặp /i/ Lưỡi đưa hướng -i- hit /hit/ lên phía trên và ra -e- begin phía trước, -a- (trong danh /bi’gin/ khoảng cách mơi từ cĩ 2 âm tiết shortage trên và mơi dưới tận cùng bằng /'∫ɔ:tidʒ/ hẹp, mở rộng “age”) miệng sang hai build /bild/ bên -ui- 1 /i:/ Lưỡi đưa hướng -ee- meet /mi:t/ lên trên và ra phía -ea- repeat trước, khoảng /ri`pi:t/ cách mơi trên và -e-e- seen /si:n/ dưới hẹp, mở rộng -ie- piece /pi:s/ miệng sang hai bên. Khi phát âm, miệng hơi bè một chút, giống như đang mỉm cười. 2 /ʌ/ Miệng mở rộng, -o- (từ một âm come lưỡi và hàm dưới tiết, hoặc âm tiết /kʌm/ hạ một chút nhận trọng âm among trong từ cĩ nhiều /ə'mʌη/ âm tiết) -u- (từ cĩ tận cup /kʌp/ cùng là u+ phụ âm) -ou- (từ cĩ nhĩm country “ou” với một /'kʌntri/ hoặc hai phụ âm 19
  20. -oo- blood /blʌd/ /ɑ:/ Phía sau lưỡi hạ -a- star / stɑ:r/ xuống, hàm dưới -ua- guard hạ xuống. Miệng /gɑ:d/ mở rộng hơn và -au- aunt /ɑ:nt/ lưỡi hạ sâu hơn -ea- heart / hɑ:t/ khi phát âm /Ʌ/ 3 /e/ Miệng hơi mở -e- event theo chiều ngang, /i`vent/ hàm dưới hơi hạ -a- many xuống /`meni/ -ea- dead /ded/ /ỉ/ Vị trí lưỡi thấp, -a- (trong từ cĩ 1 bag /bỉg/ chuyển động theo âm tiết mà tận captain hướng đi xuống. cùng bằng một /`kỉptin/ Miệng mở rộng hay nhiều phụ pattern như khi phát âm âm; hoặc âm tiết /pỉtən/ âm /Ʌ/ nhưng nhận trọng âm từ phát âm thành /e/ cĩ nhiều âm tiết và đứng trước hai phụ âm 4 /ɒ/ Mơi trịn hương -o- comment về phía trước, lưỡi /`kɒment/ thấp và hàm dưới solve /sɒlv/ hạ xuống /ɔ:/ Mơi thật trịn, -a- (trong từ cĩ 1 call /kɔ:l/ hướng về phía âm tiết tận cùng trước. Lưỡi di bằng “ll”) chuyển về phía -or- portrait sau, phần sau lưỡi /'pɔ:treit/ nâng lên. Phát âm -au- clause dài hơn âm /ɒ/ /klɔ:z/ 20