Nâng cao năng lực tự học chữ Hán cho học sinh lớp chuyên Nhật
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực tự học chữ Hán cho học sinh lớp chuyên Nhật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
nang_cao_nang_luc_tu_hoc_chu_han_cho_hoc_sinh_lop_chuyen_nha.docx
Nội dung tài liệu: Nâng cao năng lực tự học chữ Hán cho học sinh lớp chuyên Nhật
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG ------------------------------------ NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC CHỮ HÁN CHO HỌC SINH LỚP CHUYÊN NHẬT Người thực hiện: TRẦN PHƯƠNG LY Bắc Giang, tháng 3 năm 2023 1
- MỤC LỤC Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài II. Đối tượng nghiên cứu III. Lịch sử vấn đề IV. Mục đích nghiên cứu, đóng góp mới của chuyên đề V. Phương pháp nghiên cứu VI. Cấu trúc của chuyên đề Phần thứ hai: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ I. Sơ lược về hán tự II. Phương pháp học hán tự III. Bài tập thực hành và đáp án IV. Kết luận Phần thứ ba: KẾT LUẬN 2
- Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Người Việt Nam khi học tiếng Nhật thường gặp một số khó khăn như: học chữ Hán, cách dùng kính ngữ Theo Ishida (1995), trong môi trường không sử dụng chữ Hán thì việc học chữ Hán càng khó khăn hơn. Đối với người học – đặc biệt là các HS trường THPT Chuyên Bắc Giang đang học tiếng Nhật, học chữ Hán là một trong những khó khăn vì số lượng chữ Hán nhiều và khi học chữ Hán cần nhớ cả cách đọc, cách viết và ý nghĩa. Việc giúp học sinh nắm vững chữ Hán sẽ giúp ích nhiều trong việc học tiếng Nhật. Ngược lại, nếu học sinh thấy chữ Hán khó sẽ là rào cản lớn trong việc học tiếng Nhật. Việt Nam hiện nay không thuộc môi trường sử dụng chữ Hán, tuy nhiên được coi là thuộc Khu vực văn hoá chữ Hán 漢字文化, nghĩa là lượng từ vựng có nguồn gốc từ chữ Hán tương đối lớn. Do vậy yếu tố đó có thể ảnh hưởng tới các thủ pháp học chữ Hán của người Việt Nam khi học tiếng Nhật. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với mục đích tìm ra các thủ pháp học chữ Hán giúp các HS trường THPT Chuyên Bắc Giang chinh phục chữ Hán, thấy chữ Hán thú vị, giúp học sinh tự tìm tòi, chủ động trong việc học chữ Hán. Thủ pháp ở đây được dùng với nghĩa là cách thức để học chữ Hán. II. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương pháp học chữ Hán hiệu quả. III. Lịch sử vấn đề Theo cuộc khảo sát về phương pháp học chữ Hán của Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội thì hầu hết các sinh viên đề sử dụng phương pháp“Tra từ điển những chữ Hán mình không biết”. Kết quả này cũng cùng chung với kết quả của Kano (1998). Kano đã tiến hành điều tra khảo sát các sinh viên học tiếng Nhật trình độ sơ cấp và trung cấp từ các nước khác nhau. Kano cũng chỉ ra rằng thủ pháp này không phụ thuộc vào học sinh nước nào, ngôn ngữ gì, đây là thủ pháp được sử dụng nhiều. Từ điển có rất nhiều loại và hiện nay số lượng từ điển điện tử, online... ngày càng gia tăng nên số lượng người sử dụng cũng tăng lên nhiều. Trong từ điển có nhiều thông tin như cách viết chữ Hán, ví dụ, từ ghép với chữ Hán đó.... nên người học có thể lựa chọn thông tin phù hợp với mục đích của mình. 3
- IV. Mục đích nghiên cứu, đóng góp của vấn đề - Mục đích chính của đề tài là tìm ra thêm các giải pháp khắc phục tình trạng còn lúng túng của giáo viên trong quá trình giảng dạy ôn luyện cho học sinh tham dự các kỳ thi học sinh giỏi các cấp và kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng; trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cần thiết để học tập và tham gia cá kỳ thi quan trọng. Đồng thời chuẩn bị cho học sinh tâm thế tự tin hơn khi làm bài thi. - Khái quát thêm những kết luận tổng quát về tính ưu việt giữa các phương pháp dạy học cụ thể trong hướng dẫn học sinh ôn luyện thi học sinh giỏi và thi tuyển sinh đại học môn Tiếng Nhật. - Mô tả cụ thể quy trình của một số phương pháp ôn luyện, làm tư liệu tham khảo cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình chuẩn bị các điều kiện dự thi học sinh giỏi và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. V. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành các phương pháp chủ yếu sau: - Phương pháp phân tích – tổng hợp : được tiến hành trên cơ sở phân tích các phương pháp thường xuất hiện khi học chữ Hán, - Phương pháp so sánh : để khẳng định tính ưu việt của những phương pháp được đề cập tới trong chuyên đề, chúng tôi so sánh ưu và nhược điểm của từng phương pháp để từ đó, giúp người dạy có thể sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn các PPDH theo tinh thần đổi mới. - Phương pháp thực nghiệm : để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã cho tiến hành dạy và kiểm tra kết quả tại ba lớp chuyên Pháp trường THPT chuyên Bắc Giang. VI. Cấu trúc của chuyên đề 1. Sơ lược về hán tự 2. PP học hán tự 3. Hệ thống bài tập hán tự Phần 2: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ I. Sơ lược về hán tự 1. Nguồn gốc việc sử dụng chữ Hán trong tiếng Nhật 4
- Chữ Hán Nhật văn (漢字- Kanji) là 1 trong 5 bộ kí tự dùng trong tiếng Nhật hiện nay bao gồm: Hiragana, katakana, Bảng chữ cái Latinh (Romaji), chữ số Ả rập và Kanji. Có một số bất đồng về cách thức chữ Hán du nhập vào Nhật Bản, nhưng ý kiến được chấp nhận rộng rãi nhất là các nhà sư đã mang các văn bản chữ Hán đến Nhật vào khoảng thế kỉ thứ 5. Ban đầu các văn bản chữ Hán cũng được đọc bằng âm Hán. Tuy nhiên qua thời gian, hệ thống Hán văn (漢文, kanbun) xuất hiện – nó dùng văn bản chữ Hán với dấu thanh cho phép người Nhật đọc nó theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật. Lúc bấy giờ tiếng Nhật chưa có dạng chữ viết chính thống. Ngay cả hệ thống chữ viết man'yogana (万葉仮名 ) là , vạn diệp giả danh, được dùng trong tuyển tập thơ cổ Man’yoshu) cũng dùng bộ chữ Hán với số kí tự hạn chế nhằm ký âm, chứ không nhằm diễn đạt ngữ nghĩa. Man'yogana viết ở dạng đường cong trở thành Hiragana (ひらがな bình giả danh), một hệ thống chữ viết dành cho phụ nữ (không được phép tham gia vào nền giáo dục cao). Hầu hết văn chương của phụ nữ vào thời đại 平安 được viết bằng hiragana. Song song đó, katakana 片仮名 phiến giả danh) xuất hiện do được các tu sinh giảm lược manyogana thành một thành tố đơn. Hiragana và katakana được gọi chung là kana. Khi hệ thống chữ viết tiếng Nhật trưởng thành và mở rộng, kanji được dùng để viết một số phần trong câu, như danh từ, tính từ và động từ, còn hiragana được dùng để viết đuôi của động từ (okurigana), từ chỉ có ở tiếng Nhật và từ khó đọc, khó nhớ bằng kanji. Hiragana cũng được dùng trong sách dùng cho trẻ em và khi muốn giảm nhẹ mức độ của từ hoặc lời yêu cầu, thí dụ như từ kudasai (ください, xin vui lòng) và こども ( trẻ em). Ngược lại, vì có hình dạng góc cạnh, katakana được dùng để biểu thị từ tượng thanh, các âm thô đột ngột, âm thanh của động vật và từ vay mượn của nước ngoài. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc dùng katakana để viết từ vay mượn chỉ xuất hiện sau này. Lúc đầu, các từ này được viết bằng kanji, dựa theo nghĩa (煙 草 tabako, thuốc lá) hay theo phát âm (tempura 天婦羅 hay 天婦羅, tên một món ăn). Ngày nay thì ngược lại. Từ vay mượn, đặc biệt là gốc tiếng Anh, đang nhanh chóng thay thế cả những từ thường dùng có sẵn dạng tương đương trong tiếng Nhật 5
- thay vì được dùng để lấp khoảng trống từ vựng. Một giáo sư ngôn ngữ học ước tính 1/3 tiếng Nhật văn nói dùng từ vay mượn hay 和製英語 (wasei-eigo), từ tiếng Anh được phát minh bởi người Nhật và từ kết hợp như パソコン Pasokon (personal computer, máy tính cá nhân). 2. Các loại chữ Hán Căn cứ vào phương pháp hình thành, chữ Hán được chia làm 4 loại chính: - Chữ tượng hình (象形文字) - Chữ chỉ thị (指示文字) - Chữ hội ý (会意文字) - Chữ hình thành (形声文字) 2.1. Chữ tượng hình (象形文字) Đây là loại chữ sơ khai được sáng tạo từ các hình ảnh, của các sự vật hoặc hiện tượng. Hầu hết chữ tượng hình là các danh từ và được sử dụng như các bộ phận cầu thành của nhiều chữ kanji phức tạp. Người ta ước tính khoảng 3% số lượng chữ Hán được sử dụng ở Trung Quốc thuộc loại chữ này. Một số ví dụ về chữ tượng hình. 山 yama 川 kawa 月 tsuki Sơn(núi) Xuyên (sông) Nguyệt (trăng) 魚 sakana 日 hi 日 hi Ngư (cá) Nhật (mặt trời) Hỏa (lửa) 2.2. Chữ chỉ thị (指示文字) Loại chữ này sử dụng các điểm, đường thẳng để thể hiện các khái niệm trừu tượng không thể diễn tả thong qua hình dạng, bao gồm cả những chữ chỉ vị trí như ... (thượng – trên), ... (hạ - dưới), ... (trung – trong)... 一 ichi 二 ni 大 ookii/dai Nhất (một) Nhị (hai) Đại (lớn) 中 naka/chu 小 chii-sai/sho Trung (bên trong) Tiểu (nhỏ) 6
- 2.3 Chữ hội ý (会意文字) Được hình thành bằng cách tổ hợp từ các chữ tượng hình đơn giản để biểu thị một ý nghĩa mới nhưng ở mức đơn giản. Số lượng chữ hội ý được tin là bằng số chữ tượng hình. 木+木=林 (mộc)cây + (mộc)cây= (lâm) rừng thưa イ+木=休 (nhân)người + (mộc)cây = (hưu) nghỉ ngơi 木 木 木 = 森 (tam mộc) 3 cây = (sâm) rừng rậm 田+力 = 男 (điền) ruộng (lực) sức lực = (nam)người đàn ông 2.4. Chữ hình thanh Đây cũng là loại chữ được hình thành từ hai hoặc nhiều kí tự đơn đơn giản để biểu thị một ý nghĩa mới. Nhưng khác với chữ hội ý, chữ hình thanh có một bộ phận dùng diễn tả ý nghĩa mới, phần còn lại dùng để biểu thị cách đọc. Chữ hình thanh có số lượng lớn nhất, chiếm khoảng 90% tổng số lượng chữ kanji. Trong ví dụ trên, phần bên trái của các chữ thuộc bộ “thủy” – bao gồm các kí tự mang nghĩa liên quan đến nước. Phần còn lại chỉ cách phát âm. Cụ thể, với chữ 江 “giang”, bên phải bộ “thủy” là chữ 工 “công”, được đọc là kou, với chữ 洋 “dương”, bên phải bộ “thủy” là chữ... “dương” được đọc là you. Chữ 何“hà”, bên phải cũng là chữ sự 可 “hà”. được đọc là ka. Chính vì lí do trên, nhiều khi chúng ta chỉ cần biết cách đọc của thành phần chỉ âm, có thể suy ra được cách đọc của chữ Hán đó. 3.Cách đọc chữ Hán 7
- Do cách thức du nhập vào tiếng Nhật, một ký tự kanji có thể được dùng để viết một hoặc nhiều tư “hay hình vị, trong hầu hết các trường hợp) khác nhau. Từ cách nhìn nhận của người đọc, kanji cũng có một hoặc nhiều cách đọc khác nhau. Để quyết định sử dụng cách đọc nào, người ta phải dựa vào văn bản, dụng ý, hoàn cảnh phức hợp, thậm chí là vị trí từ kanji đó trong câu. Một số từ kanji thông dụng có từ 10 cách đọc trở lên. Những cách đọc này thường được phân loại thành nhóm on’yomi (hay cách đọc on) hoặc kunyomi (hay cách đọc kun) a. On'yomi (Cách đọc kiểu Hán) Onyomi (音読み âm độc mĩ), cách đọc Hán-Nhật, là sự Nhật hóa cách phát âm tiếng Hán của Hán tự vào thời điểm nó được du nhập vào. Một số ký tự Kanji được du nhập từ các vùng khác nhau của Trung Quốc vào các thời điểm khác nhau, dẫn đến có nhiều Onyomi, và thường có nhiều ý nghĩa. Những kanji được phát minh tham ở Nhật thường không có On'yomi, nhưng cũng có một số ngoại lệ, chẳng hạn ký tự “ 働(động) "làm việc", có kun'yomi là hataraku và on'yomi là do, hay ký tự 線 (tuyến), chỉ có cách đọc on yomi là sen. Nhìn chung, on 'yomi chia làm 4 kiểu: • Cách đọc Go-on (呉音, “Ngô âm") có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc hay Bách Tế ở Triều tiên, vào thế kỷ thứ V – VI. “Ngô” ở đây chính là nước Ngô ở Trung Quốc (nằm trên địa hạt nay là thành phố Thượng Hải). ・Cách đọc Kan-On ( 漢音, “Hán âm”) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ nhà ông Đường vào khoảng thế kỷ thứ VII – IX, chủ yếu lấy cách phát âm ở kinh đô Trường An (kr) của nhà Đường làm tiêu chuẩn. ・Cách đọc To-on (唐音, “Đường âm”) có xuất xứ từ cách phát âm của các triều đại sau đó, như nhà Tống và nhà Minh . Đây là cách đọc chủ yếu được du nhập trong các thời kỳ Heian (平安) cho đến Edo (江戸). ・Cách đọc Kan’yo-on (慣用音, “Quán dụng âm”) là những cách đọc ra đời do bị biến đổi, nhầm lẫn và được người Nhật chấp nhận trong ngôn ngữ của họ. Kiểu đọc thông dụng nhất là kan-on. Cách đọc go-on đặc biệt thong dụng trong các thuật ngữ đạo Phật, chẳng 8
- hạn gokuraku 極楽 “cực lạc”. Cách đọc to-on được dùng trong một số từ như isu 椅子 (ỷ tử) “chiếc ghế” hay futon 布団 (bố đoàn) “tấm nệm". Trong tiếng Hán, hầu hết các ký tự chỉ có một âm tiết tiếng Hán duy nhất. Tuy nhiên, một số từ đồng chuế khác nghĩa (cùng cách viết, khác ý nghĩa) được gọi là 多音字(đa âm tự - binh âm: duoyzinzi) như 行 (hành – bính âm: háng hay xing) (tiếng Nhật: ko, gyo) có nhiều hơn một cách đọc biểu diễn những ý nghĩa khác nhau, điều này cũng được phản ánh ở sự tiếp nhận trong tiếng Nhật. Ngoài ra, nhiều âm tiết tiếng Hán, đặc biệt là các âm tiết với thanh nhập (入音), không tương thích với các âm vị phụ - nguyên âm dùng rộng rãi trong tiếng Nhật cổ. Do đó hầu hết on’yomi được hình thành bởi hai morae (âm tiết hay nhịp), mora thứ hai có thể là sự kéo dài của nguyên âm trong mora thứ nhất, hoặc là một trong các âm tiết ku, ki, tsu, chi, hoặc âm tiết n, và được lựa chọn một cách tương đương nhất so với các nguyên âm cuối trong tiếng Hán trung cổ. Thực tế, các phụ âm vòm ở trước các nguyên âm không phải là I, cũng như âm tiết n, có lẽ đã được thêm vào tiếng Nhật để mô phỏng dễ hơn tiếng Hán; không đặc điểm nào trong số này xảy ra trong tiếng Nhật nguyên gốc. On’yomi được dùng chủ yếu trong các từ ghép kanji (Phải Jukugo thục ngữ), một số là kết quả do du nhập cùng với chính những ký tự kanji đó từ các từ các từ tiếng Hán do có thể không tồn tại trong tiếng Nhật hoặc không thể phát âm rõ ràng nếu chỉ sử dụng ngôn ngữ bản địa. Quá trình vay mượn ngôn ngữ này tương tự với quá trình vay mượn các từ tiếng Latin hoặc tiếng Pháp Noóc-măng đối với tiếng Anh, hay vay mượn các từ tiếng Pháp hoặc tiếng Anh đối với tiếng Việt; bởi các thuật ngữ mượn tiếng Hán thường có tính chuyên môn hóa uyên bác, âm tiết kiểu cách hơn so với từ bản địa tương ứng. Ngoại lệ đáng kể nhất trong nguyên tắc này là tên họ, trong đó thường được sử dụng cách đọc kun yomi hơn. 3.2 Kun’yomi (cách đọc kiểu Nhật) Cách đọc kiểu Nhật hay cách đọc bản địa, kun'yomi (訓読み, huấn độc mĩ), là cách đọc một chữ kanji lấy nghĩa, dựa trên cách phát âm của một từ tương đương tiếng Nhật, tức yamatokotoba. Cách đọc này chuyển nghĩa của kanji sang một chữ tương xứng nhất trong 9
- tiếng Nhật. Giống với on’yomi, mỗi kanji có thể có một hoặc nhiều cách đọc. Có khi kanji đó chỉ có on’yomi mà không có kun’yomi. Lấy ví dụ, ký tự kanji 東, “phía đông”, có cách đọc on'yomi là to. Tuy nhiên, tiếng Nhật vốn đã có 2 từ mang nghĩa “phía đông” là: higashi và azuma. Do đó, ký tự 東 có những cách đọc kun là higashi và azuma. Ngược lại, ký tự kanji “thốn”, biểu thị một đơn vị đo chiều dài trong tiếng Hán (xấp xỉ 3cm), tiếng Nhật bản địa không có từ nào mang nghĩa tương đương. Do đó, nó chỉ có cách đọc là on là sun và không có cách đọc kun nào. Hầu hết các kokuji, tức các ký tự kanji do người Nhật tạo ra thêm, chỉ có các cách đọc kun. Đặc trưng của kun’yomi được quyết định bởi cấu trúc âm tiết (phụ)-nguyên của yamatokotoba. Hầu hết các kun’yomi của danh từ và tính từ thường có độ dài từ 2 đến 3 âm tiết, không tính các ký tự hiragana đi kèm có tên gọi okurigana. Okurigana không được xem là một phần trong bản chất cách đọc của ký tự, mặc dù chúng ta là một phần trong cách đọc của toàn bộ từ. 3.2 Những cách đọc khác Có nhiều từ ghép kanji sử dụng kết hợp cách đọc on'yomi và kun'yomi, gọi là các từ jubako hay yuto, chúng chính là những ví dụ của loại từ ghép này (chúng là những từ tự diễn giải): ký tự đầu tiên của jubako được đọc bằng on'yomi, ký tự thứ hai dùng kun’yomi, những cách đọc khác lieu quan đến yuto. Đó là dạng từ lai trong tiếng Nhật. Có thể kể một số ví dụ khác như “Basho”- “nơi, địa điểm” (cách đọc kun-on). Một số kanji cũng có những cách đọc ít được biết đến hơn gọi là nanori, hầu hết được dùng cho tên người, và thường lien quan đến cách đọc kun'yomi. Tên địa danh đôi khi cũng dùng cách đọc nanori hoặc, thỉnh thoảng hơn, có những cách đọc rất riêng không theo quy luật nào cả. Gikun (義君) nghĩa huấn) hay jukujikun (熟字訓) là những cách đọc các từ ghép kanji không tương ứng với cả on’yomi hay kun’yomi của mỗi ký tự trong từ đó. Lấy ví dụ, 今朝 (“sáng nay”) không đọc là “ima’asa tương ứng với kun’yomi của mỗi ký tự - cũng không đọc là *koncho – tương ứng với on’yomi của mỗi ký tự - mà được đọc là kesa - một từ tiếng Nhật bản địa có 2 âm tiết 10
- 3.3 Khi nào dùng cách đọc nào Mặc dù có nhiều qui tắc khi nào dùng cách đọc on’yomi hay khi nào dùng kun’yomi, trong tiếng Nhật tràn ngập các trường hợp không theo qui tắc, và ngay cả người bản địa không phải lúc nào cũng có thể biết cách đọc của một ký tự nếu không có kiến thức tốt. Qui tắc vỡ lòng là đối với những kanji độc lập, chẳng hạn một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọc kun'yomi của chúng. Chúng có thể được viết cùng với okurigana để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ, hay do qui ước. Ví dụ: 1) nasake “sự cảm thông”, Akai “đỏ”. Okurigana là một khía cạnh quan trọng trong cách dùng kanji trong tiếng Nhật; xem bài viết đó để biết thêm về kun’yomi. Các từ ghép kanji nhìn chung được đọc bằng on'yomi, trong tiếng Nhật gọi là khám Jukugo (thục ngữ). Shinkansen "tàu tốc hành" đều tuân theo dạng này. Sự khác nhau giữa qui tắc đọc kanji độc lập và ghép làm cho nhiều từ có ý nghĩa gần giống nhau nhưng lại có cách đọc hoàn toàn khác nhau. Thì "hướng đông"東 và "hướng bắc"北 khi đứng độc lập dùng cách đọc kun tương ứng là higashi và kita, trong khi từ ghép 北東 "hướng đông bắc” lại dùng cách đọc on là Hokutou. Điều này còn phức tạp hơn bởi thực tế nhiều kanji có nhiều hơn một cách đọc on'yomi. 生 đọc là sei trong từ 先生 Sensei “giáo viên” nhưng lại đọc là Shou trong — I: Isshou "cả đời người". Ý nghĩa cũng có thể là tác nhân đối với cách đọc, U, Đọc là i khi nó mang nghĩa “đơn giản", những lại thành eki khi nó mang nghĩa "tiên đoán, bói toán", cả hai cách đọc đều là on yomi của ký tự này. Qui tắc vỡ lòng này cũng có rất nhiều ngoại lệ. Số lượng những từ ghép đọc bằng kun’yomi không lớn như on’yomi, nhưng cũng không phải là hiếm. Chẳng hạn như 手紙 tegami “thư”, 傘 “cái ô”, hay một từ khá nổi tiếng 神風 ( kamikaze “ngọn gió thần thánh”. Tương tự, một số ký tự on’yomi cũng có thể được dùng như một từ khi đứng độc lập: 愛 ai “tình yêu”, từ 善 “thiện”. Hầu hết các trường hợp này liên quán đến những từ kanji không có kun’yomi, nên có thể có sự nhầm lẫn, mặc dù vẫn có các ngoại lệ. Ký tự độc lập... có thể đọc là kin “tiền, vàng” hoặc cũng có thể là kane “tiền, kim loại”, chỉ có cách dựa vào ngữ cảnh mới biết được cách đọc và ý nghĩa trong dụng ý của người viết. Do có nhiều cách đọc nên số lượng từ cùng cách viết khác ý nghĩa cũng tăng lên, nhiều khi chúng có các ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào cách đọc. Lấy một ví dụ là từ , có thể đọc theo 3 cách khách nhau: Jouzu (khéo léo, giỏi), uwate (phần trên), 11
- hoặc kamite (phần trên). Người ta thường furigana trong những trường hợp này để làm rõ sự nhập nhằng về ý nghĩa. II. PHƯƠNG PHÁP HỌC HÁN TỰ Chữ Hán thoạt nhìn trông rất phức tạp vì gồm nhiều nét, có những chữ hàng hai ba chục nét, gây tâm lý “ngại” cho người học. Tuy nhiên, cũng như Tiếng Việt, các từ được tạo thành từ các chữ cái, thì chữ Hán phức tạp đến mấy cũng tạo thành từ phần đơn giản hơn, đó có thể là các chữ tượng hình, chữ chỉ thị, chữ hội ý, hoặc từ các “bộ” chữ. Các chữ có cấu trúc giống nhau thường có cách đọc gần giống nhau, hay ý nghĩa của chữ có thể suy ra từ các bộ phận tạo thành. Do đó cần nhớ các chữ đơn giản và các bộ cơ bản. Học chữ Hán có các nguyên tắc sau: Chữ Hán nhanh quên, cần xem lại thường xuyên (nếu có thể thì xem lại hàng ngày). Tuy nhiên không nên dành nhiều thời gian để học 1 chữ, mà nên học lướt qua chữ đó nhiều lần, có thể chỉ vài giây một chữ, nhưng nhìn hàng trăm, hàng nghìn lần hiệu quả sẽ cao hơn. Mới học nên học để thuộc mặt chữ, âm Hán Việt và ý nghĩa. Từ âm Hán Việt có thể suy luận ra gần đúng âm On, hoặc như đã nói trên, từ các chữ đơn giản tạo thành cũng có thể suy ra cách đọc On. Cách đọc Kun là cách đọc thuần Nhật, muốn thuộc chỉ còn cách luyện đọc thật nhiều. Không nên cố nhớ cách đọc âm On, âm Kun riêng rẽ, mà nên nhớ vào từ vựng. Hãy tận dụng sự tương tự của từ Hán Việt so với chữ kanji, bởi lẽ, tuy người Việt đã dùng hệ chữ Latinh để viết, nhưng ý nghĩ và âm đọc có nguồn gốc Hán hầu như không thay đổi, hiện tiếng Việt sử dụng trên 70% chữ có nguồn gốc Hán. Vì vậy tồn tại rất nhiều chữ Kanji có ý nghĩa giống hệt từ Hán Việt, thậm chí cách đọc cũng không khác nhau là mấy: Ví dụ, chữ .... Kekkon trong tiếng Nhật mang ý nghĩa là “kết hôn” thì tiếng Việt cũng có chữ “kết hôn” có ý nghĩa giống hệt và cách đọc tương tự. Một số chữ khác nhau như Iken – ý kiến; chuui – chú ý; lê konnan – Khốn nạn... Tận dụng lợi thế tiếng Việt, khi học một chữ Hán mới, cố gắng tìm càng nhiều càng tót các từ Hán Việt đi kèm, ví dụ như chữ ă “Ý”, tìm được một số chữ như “đắc ý” 意見“y kién”, 意図“y dò”,恶意 “ác ý”,注意“chú ý”.... 12
- Chữ Hán được viết theo thứ tự: trái trước, phải sau, trên trước, dưới sau, ngang trước, sổ sau... cũng có một số ngoại lệ nhưng đa số tuân theo nguyên tắc trên. Bạn chỉ nên học viết khi đã thuộc kĩ mặt chữ, thuộc tới mức không nhìn cũng có thể tưởng tượng ra hình dạng của nó. Khi đó hãy cố tưởng tượng vẽ lại chữ đó. Nếu vẽ đúng có nghĩa là đã thuộc chữ. Nếu sai, xem sai chỗ nào, viết lại đến khi đúng. Nếu đã học chữ kĩ, viết khoảng 3-4 lần là nhớ. Nhưng điểm mấu chốt Tác giả Oxford (1990) cho rằng có hai loại phương pháp học là trực tiếp và gián tiếp. Nhóm phương pháp học trực tiếp dựa trên các nhiệm vụ tiềm thức. Nhóm phương pháp học gián tiếp dựa trên các phương pháp học tri nhận. Hai loại này được chia thành 06 nhóm là trí nhớ, tri nhận, bù trừ, xã hội, tình cảm và siêu tri nhận. Mori và Shimizu (2007) đã chia thành 06 nhóm phương pháp học Kanji: phân tích văn tự, học thuộc lòng, phương pháp dựa vào ngữ cảnh, phương pháp liên hệ, phương pháp siêu tri nhận và sự bất lực. Nhóm phương pháp phân tích Kanji Phương pháp phân tích Kanji giúp người học nhận biết các bộ phận cấu thành Kanji. Từ đó, người học có thể nhận thấy các bộ phận quen thuộc của Kanji dựa trên kiến thức có sẵn về các bộ thủ, cách đọc, và chức năng của những bộ thủ đó (Kondo-Brown, 2006; Kubota & Toyoda, 2001). Phương pháp thuộc nhóm này: phân tích cách viết và bộ thủ cấu thành. Nhóm phương pháp học thuộc lòng Phương pháp học thuộc lòng bao gồm viết đi viết lại (Naka, 1998), theo dấu và sao chép (Onose, 1988). Phương pháp học này thích hợp cho người học ở cấp độ sơ cấp trong bước đầu tiếp xúc với Kanji (Nesbitt, 2009). Một số phương pháp thuộc nhóm này: - Viết đi viết lại nhiều lần theo thứ tự nét. - Nhớ bộ thủ, viết theo thứ tự, tự mô tả các thành phần tạo nên Kanji (kết hợp với phương pháp phân tích Kanji). - Đọc đi đọc lại nhiều lần các ví dụ và bài luyện tập để nhớ phát âm. 13
- Nhóm phương pháp dựa vào ngữ cảnh Phương pháp dựa vào ngữ cảnh là phương pháp sử dụng các thông tin về ngữ cảnh khác với thông thường là học theo từng chữ lẻ (Mori & Shimizu, 2007). Người học tiếng Nhật dùng phương pháp dựa vào ngữ cảnh để học các từ mới thật sự hiệu quả và đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu (Brown, Sagers, & LaPorte, 1999; Fraser, 1999). Ngữ cảnh sẽ cho người học nhiều thông tin hữu ích về loại Kanji, loại từ trong ngữ cảnh cho trước (Mori, 2003). Phương pháp này trở nên hiệu quả hơn khi kết hợp cùng với phương pháp phân tích Kanji (Mori, 2002). Nhóm phương pháp liên hệ Phương pháp liên hệ hoặc phương pháp lưu giữ là một phương pháp tăng cường trí nhớ. Người học sẽ dùng các kỹ thuật cá nhân hoặc hình ảnh để mã hóa chữ hoặc từ. Kỹ thuật cá nhân hay hình ảnh trong tâm thức là những yếu tố quen thuộc như hình ảnh (Thomas & Wang, 1996), và các cách phát âm tương tự như từ hoặc chữ Kanji đó (Mori, 2016). Theo Rose (2012) đây là phương pháp hữu ích cho người học. Một số phương pháp thuộc nhóm này: - Người học nghĩ ra hình ảnh/ký hiệu liên quan, liên tưởng đến Kanji. - Người học nghĩ ra câu chuyện cho 01 chữ Kanji dựa vào từng phần của chữ (kết hợp với phương pháp phân tích Kanji). - Người học kết nối chữ Kanji mới với chữ Kanji đã học có cùng âm Hán - Việt, âm on, âm kun để nhớ. - Dùng âm Hán Việt để nhớ chữ Kanji. Nhóm phương pháp siêu tri nhận Phương pháp siêu tri nhận được dùng để giúp người học tăng cường sự tự giác với quá trình học của mình (Oxford, 1990). Phương pháp siêu tri nhận còn bao gồm thêm mức độ hiểu của nhiệm vụ được cho và việc chọn phương pháp học Kanji. Các bước quan trọng nhất trong phương pháp này là việc điều phối việc học, quá trình quản lý việc học, và việc tự định hướng phát triển kiến thức Kanji (Mori, 2016). Một số phương pháp thuộc nhóm này: 14
- - Áp dụng cách học khác nhau tùy vào mỗi chữ Kanji. - Ghi nhận chữ Kanji mới vào sổ tay. - Đánh giá lại kết quả học Kanji và xem lại lỗi sai do giảng viên sửa. - Lên kế hoạch mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng để theo dõi lịch trình. - Soạn bài trước buổi học. Sự bất lực Sự bất lực (Helplessness) là một mệnh đề bổ sung cho phương pháp học siêu tri nhận. Sự bất lực là cảm giác lạc lối, không tìm được phương pháp học phù hợp. Đặc trưng của yếu tố này là người học không biết đến phương pháp nào phù hợp hoặc không biết áp dụng phương pháp như thế nào. Đây là một dấu chỉ giúp giảng viên xác định người học cần giúp đỡ (Mori & Shimizu, 2007). 2.3. Phương pháp dạy Kanji Theo góc nhìn thuần túy ngôn ngữ học, tác giả Tran (2008) cho rằng phương pháp dạy Kanji bao gồm 02 nhóm là Phương pháp phân tích và Phương pháp mang tính tổng hợp. Phương pháp phân tích yêu cầu người học nắm vững yếu tố tạo nên chữ Hán, bộ thủ và các bộ thủ và nét cơ bản của chữ Hán. Phương pháp miêu tả lại yêu cầu người học nắm vững hình dạng cơ bản, lịch sử và nguồn gốc, đối chiếu các điểm giống và khác nhau giữa các chữ Hán, ghi nhớ mang tính liên tưởng, nêu được yếu tố hình - âm trong chữ Hán, lý giải được nghĩa từ phức trong một từ gồm 02 chữ Kanji, chỉ ra được dị thể, có thể tra cứu từ điển. Nhìn chung cách phân loại của tác giả Tran (2008) tập trung vào các yêu cầu hiểu biết về cấu trúc chữ, dị thể và các thành tố khác của chữ Hán. Theo hướng tiếp cận từ tâm lý học ngôn ngữ và tâm lý học tri nhận, Shimizu và Green (2002) đã tổng hợp nên các nhóm phương pháp dạy Kanji là: Phương pháp học thuộc, Phương pháp trí nhớ, Phương pháp ngữ cảnh. Nếu so sánh 02 cách chia trên, chúng ta có thể thấy cách của tác giả Tran (2008) lấy chữ Hán cách tiếp cận Kanji làm trung tâm. Từ đó triển khai các phương pháp, kỹ thuật sao cho đạt tiêu chí mà tác giả đưa. Trong khi đó, cách phân loại của Shimizu và Green (2002) lại tập trung vào cách tiếp thu của người học hơn. Nghiên cứu đã tiếp cận từ phương pháp học thuộc thông thường đến các phương pháp tri nhận như phương pháp trí 15
- nhớ và ngữ cảnh. Cách phân loại theo 03 nhóm có nhiều ưu điểm hơn do đây là cách triển khai các yếu tố ngôn ngữ học dựa trên lý thuyết tri nhận. Như vậy, ngoài các nền tảng về ngôn ngữ học, các phương pháp này còn tập trung vào khả năng tiếp thu của người học. Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp các phương pháp giảng dạy tương ứng với các nhóm phương pháp giảng dạy, cụ thể như sau: Nhóm phương pháp học thuộc lòng: - Cung cấp cho sinh viên cách viết, âm On, âm Kun và một số trường hợp sử dụng. Sau đó, cho sinh viên ghi chép và tự ôn tập, tự đọc. 88 Phạm M. Tú, Trương V. Quyền. HCMCOUJS-Khoa học Xã hội, 17(2), 84-97 - Dùng các dạng thẻ ghi nhớ để sinh viên học thuộc. Nhóm phương pháp trí nhớ: - Tự học để giải thích Kanji. - Dùng hình ảnh, màu sắc kết nối với Kanji. - Liên hệ với các chữ Kanji khác đã học qua bộ thủ, cấu tạo, âm đọc. - Sử dụng bộ thủ để phân tích, liên hệ về nghĩa, âm đọc. - Liên hệ Hiragana, Katakana đã học. - Tổ chức trò chơi sử dụng các bộ thủ để ghép chữ, tập hợp nhóm Kanji cùng ý nghĩa. Nhóm phương pháp ngữ cảnh: - Sử dụng các vật dụng có chữ Kanji, các tờ rơi, quảng cáo, - Sử dụng các tình huống thực tế, thường ngày. Sustoway (2006) cho rằng, việc thống nhất và thiết kế rõ ràng chương trình giảng dạy và có cách tiếp cận tài liệu học tập cũng rất quan trọng. Giáo viên phải theo sát, kiểm tra, thúc đẩy việc làm bài tập của người học. Đồng thời có nhiều yếu tố bất khả kháng như lớp có đông người học, tài liệu không phù hợp với các phương pháp mới, phương tiện dạy học không đa dạng, kiến thức quá tải, Tác giả Tran (2008) cũng cho rằng việc trang bị các giáo cụ, các tài liệu như video, âm thanh, các công cụ hỗ trợ như từ điển, bảng điện tử và các bài tập phù hợp rất cần trong lớp dạy tiếng Nhật nói chung và Kanji nói riêng 16
- III. BÀI TẬP THỰC HÀNH VÀ ĐÁP ÁN 問題1:___の ことばは どう かきますか。1・2・3・4から いちばん い いものをひとつえらんでください。 ① あの 先生は わかいです。 1 せんせえ 2 せんせい 3 せんせん 4 せんせ ② あした えいがかんは 休みです。 1 やつみ 2 やづみ 3 やすみ 4 やずみ ③ このセーターは 二千九百えんでした。 1 にっせんきゅうひゃく 2 にっせんくうひゃく 3 にせんきゅうびゃく 4 にせんきゅうひゃく ④ すみません、お金を わすれました。 1 おかね 2 おかぬ 3 おがね 4 おがぬ ⑤ 毎日 こうえんを さんぽします。 1 まえにち 2 まいにち 3 めえにち 4 めいにち ⑥ 右がわに としょかんが あります。 1 みぎ 2 みき 3 ひたり 4 ひだり ⑦ この しごとは 時間が かかります。 1 しがん 2 じっかん 3 じがん 4 じかん ⑧ はしの うえで 電車が とまりました。 1 でんしゃ 2 てんしゃ 3 てんじゃ 4 でんじゃ ⑨ この なかで いちばん 安いのは どれですか。 1 たかい 2 はやい 3 やすい 4 ちいさい ⑩ あねに こどもが 生まれました。 1 おまれました 2 うまれました 3 ゆまれました 4 いまれました ⑪ らいげつ 友だちが にほんに あそびに 来ます。 1 どもだち 2 とむだち 3 ともだち 4 どむだち ⑫ いしかわさんは いつも えいごの CD を 聞いています。 1 かいて 2 あいて 3 ひいて 4 きいて ⑬ この クラスは 女の子が おおいです。 17
- 1 おなのこ 2 おんなのこ 3 おんなのこう 4 おなのこう ⑭ 水よう日の じゅぎょうは ありません。 1 もくようび 2 もくようぴ 3 すいようび 4 すいようぴ ⑮ すみません、もっと 長い コートは ありませんか。 1 ながい 2 たかい 3 ひくい 4 みじかい ⑯ きのうは えきに 人が たくさん いました。 1 にん 2 ひと 3 じん 4 しと ⑰ こ の くるまは 四年前に かいました。 1 よねんまえ 2 よんねんまえ 3 よねんまい 4 よんねんまい ⑱ わたしの いぬは 耳が ちゃいろです。 1 あし 2 め 3 みみ 4 からだ ⑲トラックの燃料を補給して、目的地に向かう。 1. ねんしょう 3. ねんりょう 2. りょうねん 4. ぜんりょう ⑳ 海に近いこの町では、どこの家でも魚の干物を作っている。 1. かんぶつ 3. ひぶつ 2. ひもの 4. かんもの 入浴中に友人から電話がかかってきた。 1. にゅよく 3. じんよく 2. いりよく 4. にゅうよく 必ず授業のよしゅう をしてきてください。 1. 予習 2. 子習 3. 与習 4. 代習 有名な映画のセリフをいんよう する。 1. 院用 2. 引用 3. 引要 4. 院要 寝室にはベッドと 小さな本だなしか置いていない。 1. ねしつ 2. ねや 3. しんや 4. しんしつ 四人兄弟の末っ 子だったので、 みんなにかわいがられた。 1. まつこ 2. まっこ 3. すえっこ 4. すえこ 山本さんはクラスの代表に選ばれた。 1. たいひょう 2. だいひょ 3. だいひょう 4. たいひょ この児童書は面白いので大人でも十分に楽しめる。 1. にどうしょ 3. こどうしょ 2. じどうしょ 4. しどうしょ 会社では海外営業部でアジアを担当している。 1. たんと 3. たんとう 2. だんとう 4. だんと 畳の部屋では正座をするのが、 日本の習慣である。 1. せいさ 2. しょうざ 3. せいざ 4. しょうさ 18
- ĐÁP ÁN問題1 ① あの 先生は わかいです。 1 せんせえ 2 せんせい 3 せんせん 4 せんせ ② あした えいがかんは 休みです。 1 やつみ 2 やづみ 3 やすみ 4 やずみ ③ このセーターは 二千九百えんでした。 1 にっせんきゅうひゃく 2 にっせんくうひゃく 3 にせんきゅうびゃく 4 にせんきゅうひゃく ④ すみません、お金を わすれました。 1 おかね 2 おかぬ 3 おがね 4 おがぬ ⑤ 毎日 こうえんを さんぽします。 1 まえにち 2 まいにち 3 めえにち 4 めいにち ⑥ 右がわに としょかんが あります。 1 みぎ 2 みき 3 ひたり 4 ひだり ⑦ この しごとは 時間が かかります。 1 しがん 2 じっかん 3 じがん 4 じかん ⑧ はしの うえで 電車が とまりました。 1 でんしゃ 2 てんしゃ 3 てんじゃ 4 でんじゃ ⑨ この なかで いちばん 安いのは どれですか。 1 たかい 2 はやい 3 やすい 4 ちいさい ⑩ あねに こどもが 生まれました。 1 おまれました 2 うまれました 3 ゆまれました 4 いまれました ⑪ らいげつ 友だちが にほんに あそびに 来ます。 1 どもだち 2 とむだち 3 ともだち 4 どむだち ⑫ いしかわさんは いつも えいごの CD を 聞いています。 1 かいて 2 あいて 3 ひいて 4 きいて ⑬ この クラスは 女の子が おおいです。 19
- 1 おなのこ 2 おんなのこ 3 おんなのこう 4 おなのこう ⑭ 水よう日の じゅぎょうは ありません。 1 もくようび 2 もくようぴ 3 すいようび 4 すいようぴ ⑮ すみません、もっと 長い コートは ありませんか。 1 ながい 2 たかい 3 ひくい 4 みじかい ⑯ きのうは えきに 人が たくさん いました。 1 にん 2 ひと 3 じん 4 しと ⑰ こ の くるまは 四年前に かいました。 1 よねんまえ 2 よんねんまえ 3 よねんまい 4 よんねんまい ⑱ わたしの いぬは 耳が ちゃいろです。 1 あし 2 め 3 みみ 4 からだ ⑲トラックの燃料を補給して、目的地に向かう。 1. ねんしょう 3. ねんりょう 2. りょうねん 4. ぜんりょう ⑳ 海に近いこの町では、どこの家でも魚の干物を作っている。 1. かんぶつ 3. ひぶつ2. ひもの 4. かんもの 入浴中に友人から電話がかかってきた。 1. にゅよく 3. じんよく 2. いりよく 4. にゅうよく 必ず授業のよしゅう をしてきてください。 1. 予習 2. 子習 3. 与習 4. 代習 有名な映画のセリフをいんよう する。 1. 院用 2. 引用 3. 引要 4. 院要 寝室にはベッドと 小さな本だなしか置いていない。 1. ねしつ 2. ねや 3. しんや 4. しんしつ 四人兄弟の末っ 子だったので、 みんなにかわいがられた。 1. まつこ 2. まっこ 3. すえっこ 4. すえこ 山本さんはクラスの代表に選ばれた。 1. たいひょう 2. だいひょ 3. だいひょう 4. たいひょ 20

