Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí Luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT

doc 97 trang Gia Hân 10/01/2026 100
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí Luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docren_ki_nang_chung_minh_trong_kieu_bai_nghi_luan_ve_van_de_li.doc

Nội dung tài liệu: Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí Luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT

  1. MỤC LỤC 1. TÊN SÁNG KIẾN: Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT. ................................................................................................1 2. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU...............................................................................1 3. CÁC THÔNG TIN CẦN BẢO MẬT.......................................................................................................1 4. MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM .....................................................................................1 4.1. Tên giải pháp: ................................................................................................................................1 4.2. Tình trạng và nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ:....................................................................2 5. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN ...............................................................3 6. MỤC ĐÍCH CỦA GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN ..........................................................................................4 7. NỘI DUNG ..............................................................................................................................................5 7.1. THUYẾT MINH GIẢI PHÁP CẢI TIẾN .....................................................................................5 7.1.1. Giải pháp 1: Củng cố cho học sinh những kiến thức cơ bản về văn nghị luận; thao tác chứng minh trong bài nghị luận dành cho HSG môn Ngữ văn........................................................................5 7.1.2. Giải pháp 2: Sử dụng sơ đồ tư duy để khái quát hệ thống tác phẩm cho phần chứng minh và đọc, tích lũy kiến thức nâng cao về tác giả, tác phẩm.........................................................................11 a. Nội dung giải pháp:.........................................................................................................................11 b. Cách thức tiến hành ........................................................................................................................14 7.1.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tự rèn kĩ năng chứng minh .................................................26 a. Nội dung giải pháp:.........................................................................................................................26 b. Các bước rèn kĩ năng......................................................................................................................26 7.1.4. Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh thực hành rèn kĩ năng chứng minh thông qua các đề bài cụ thể.......................................................................................................................................................52 a. Nội dung giải pháp:.........................................................................................................................52 b. Cách thức tiến hành ........................................................................................................................52 b.1. Giáo viên xây dựng hệ thống đề, đáp án và giao cho học sinh thực hành...................................52 7.2. THUYẾT MINH VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: ......................................................................61 7.2.1. Đối tượng áp dụng của sáng kiến .............................................................................................61 7.2.2. Phạm vi áp dụng của sáng kiến.................................................................................................61 7.3. THUYẾT MINH VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA SÁNG KIẾN.......................................................61 7.3.1. Lợi ích kinh tế...........................................................................................................................61 1
  2. 7.3.2. Lợi ích xã hội............................................................................................................................61 PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA: RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ................................................................................................................................................67 PHỤ LỤC 2: VĂN BẢN XÁC NHẬN ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN..........................................................90 1. Trường THPT Yên Dũng số 1: .......................................................................................................90 2. Trường THPT Yên Dũng số 2: .......................................................................................................91 3. Trường THPT Ngô Sĩ Liên, Bắc Giang ..........................................................................................92 4. Trường PT Dân tộc Nội trú tỉnh Bắc Giang....................................................................................94 2
  3. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. TÊN SÁNG KIẾN: Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT. 2. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU: 01/9/2022 3. CÁC THÔNG TIN CẦN BẢO MẬT: không 4. MÔ TẢ CÁC GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM 4.1. Tên giải pháp: Kiểu bài lí luận văn học không phải là một kiểu bài mới, nó đã tồn tại rất lâu, gần như là cố định trong đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia môn Ngữ văn những năm gần đây với cách ra đề, với số điểm. Thế nhưng trên thực tế, chưa có một tài liệu chính thống nào hướng dẫn về cách làm kiểu bài này một cách cụ thể và bài bản. Trong cuốn Luyện thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017 của mình tác giả Đỗ Ngọc Thống đã hướng dẫn cách làm một số dạng đề câu nghị luận văn học. Theo tác giả, câu nghị luận văn học gồm một số dạng đề sau: “Nghị luận về một bài thơ/ đoạn thơ” (gồm: phân tích và làm sáng tỏ một khía cạnh của bài thơ, đoạn thơ, phân tích một đoạn thơ cụ thể, cho sẵn trong đề); “Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi” (gồm: làm rõ một giá trị, một đặc điểm của tác phẩm hoặc đoạn trích, nêu cảm nhận về một đoạn trích trong tác phẩm đã học, phân tích tình huống truyện và nêu cảm nhận về một chi tiết hay một nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm, phân tích một nhân vật hoặc một hình tượng trong tác phẩm); “nghị luận về một ý kiến bàn về văn học”. Qua việc lấy đề minh họa cho cách phân chia dạng đề của tác giả chúng tôi hiểu rằng kiểu bài lí luận văn học mà chúng tôi đang bàn tới được xếp vào dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Sau khi đưa ví dụ, tác giả chỉ đưa ra lưu ý chung về việc phân tích, nêu cảm nhận cho cả ba dạng đề chứ không hướng dẫn kĩ năng đi vào kiểu bài lí luận văn học. Trong một công trình nghiên cứu khác của mình dành cho đối tượng học sinh giỏi: Tài liệu chuyên Văn tập 2, tác giả Đỗ Ngọc Thống chỉ rõ có những dạng đề sau dành cho học sinh giỏi Văn: Đề yêu cầu cảm thụ tác phẩm văn học và đề yêu cầu phân tích, bình luận về một vấn đề văn học. Nói về dạng đề thứ hai, tác giả cho rằng: vấn đề văn học có thể là một vấn đề lí luận văn học, một vấn đề văn học sử hoặc một vấn đề nghiêng về nội dung tư tưởng của tác phẩm. Đối với các kì thi học sinh giỏi quốc gia, các vấn đề lí luận văn học hoặc văn học sử luôn được đặt ra. Theo tác giả, dù bàn về một vấn đề lí luận hay 3
  4. văn học sử thì đề cũng không bao giờ tách rời việc phân tích cảm thụ tác phẩm văn học, kiểm tra kiến thức tác phẩm văn học. Ngay cả những đề tưởng như chỉ yêu cầu thuần túy lí luận văn học, thì cũng không có nghĩa là học sinh chỉ biết bàn bạc xung quanh các kiến thức lí luận. Và phần lớn những đề bàn về một vấn đề văn học sử hay lí luận văn học đều có yêu cầu gắn với việc phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ. Như thế, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã chỉ rõ, kiểu bài lí luận văn học mà chúng tôi đang bàn tới chỉ dành cho đối tượng học sinh giỏi trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia môn Ngữ văn, thực chất nó nằm trong dạng đề nghị luận về một vấn đề văn học hoặc nghị luận về một ý kiến bàn về văn học. Những gợi ý của tác giả mới chỉ dừng lại ở thao tác nhận diện đề với chỉ dẫn: dù đề có yêu cầu hay không yêu cầu, học sinh vẫn cần phải phân tích tác phẩm để làm rõ cho vấn đề lí luận, chưa đưa ra định hướng về kĩ năng bồi dưỡng học sinh như thế nào để giải quyết tốt kiểu bài này. Những năm gần đây, chúng tôi luôn tìm tòi và đã viết nhiều chuyên đề nghiên cứu khoa học đưa ra những giải pháp cụ thể giúp cho HS chủ động trong kĩ năng làm văn để nâng cao năng lực viết văn nghị luận, nhất là các đề bài nâng cao dành cho HSG. Cụ thể, chúng tôi đã viết và áp dụng vào thực tế giảng dạy HSG những chuyên đề sau: - Kĩ năng bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài lí luận văn học - Các lỗi thường gặp ở kiểu bài lí luận văn học trong bài thi học sinh giỏi môn Ngữ văn - Bồi dưỡng năng lực diễn đạt trong làm văn nghị luận cho học sinh trung học phổ thông - Rèn kỹ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý trong bài văn nghị luận cho HSG 4.2. Tình trạng và nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ: Các giải pháp cũ nêu trên đã khái quát lại những kiến thức cơ bản về văn nghị luận, cách diễn đạt trong văn nghị luận, về kiểu bài NLVH, nhất là kiểu bài lí luận văn học để giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn đúng đắn về văn nghị luận, các kiểu bài văn nghị luận trong đề thi HSG. Hình thành ở học sinh những kĩ năng khi làm bài, thực tế vận dụng vào những bài làm cụ thể... nhằm định hướng cho học sinh cách đối mặt và giải quyết các vấn đề lí luận VH... Nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng các giải pháp trên, chúng tôi nhận thấy vẫn còn những nhược điểm, hạn chế: + Ở một vài đề tài, vẫn còn đôi chỗ chưa thật chuẩn xác về kiến thức và kĩ năng. + Nặng về cung cấp kiến thức, cung cấp những bài văn mẫu dễ khiến cho học sinh tiếp nhận một cách thụ động, thiếu sáng tạo và có tư tưởng ỷ lại, lệ thuộc vào tài liệu + Chưa quan tâm đích đáng đến việc rèn phương pháp, rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài lí luận văn học cho học sinh, chưa có giải pháp nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống, chuyên sâu đến rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài lí luận văn học 4
  5. HSG môn Ngữ văn. Do đó, đây vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu tìm hiểu kĩ lưỡng. Việc tìm hiểu chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT là cái nhìn tổng hợp đồng thời là sự chia sẻ những kinh nghiệm riêng của chúng tôi trong quá trình bối dưỡng HSG. 5. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các trường THPT. Học sinh giỏi nói đúng nghĩa là học sinh có năng khiếu và năng lực văn chương. Năng khiếu là bẩm sinh, là của cải trời cho, là khả năng, tư chất của học sinh trong việc cảm nhận văn học. Năng lực được hình thành nhờ vào quá trình học tập, trau dồi. Trên thực tế, nhiều em có năng khiếu song năng lực chưa tốt. Năng lực có thể chuyển hóa thành năng khiếu nếu có hướng bồi dưỡng đúng đắn, thích hợp. Nói như vậy để thấy công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có vai trò vô cùng quan trọng. Bồi dưỡng học sinh giỏi không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức về tác phẩm và kiến thức lí luận văn học cho các em. Văn học không phải là sự cộng gộp giản đơn của những yếu tố ấy. Kiến thức lí luận cần được hiểu là khung lí thuyết của tác phẩm, là chìa khóa để giải mã ý nghĩa của văn bản văn học và tạo cho văn bản văn học những “đời sống mới”. Nhận thức được tầm quan trọng đó của kiến thức lí luận, trong đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học đặt ra trong tác phẩm trở thành kiểu bài có vị trí quan trọng. Những năm gần đây, với thang điểm 20 của đề thi, kiểu bài này thường chiếm một số lượng điểm lớn: 10/20 điểm, đòi hỏi học sinh phải đầu tư nhiều thời gian và tâm huyết dành cho câu hỏi này. Trong các thao tác, kĩ năng làm kiểu bài lí luận văn học, học sinh thường lúng túng ở khâu phân tích tác phẩm để chứng minh cho một vấn đề lí luận. Đa phần, các em chưa thực sự thuần thục trong việc lựa chọn tác phẩm để chứng minh hoặc phân tích tác phẩm thuần túy, chưa bám sát định hướng lí luận. Điều này, sẽ khiến cho bài viết thiếu logic, thiếu tính liên kết, tính hệ thống giữa các bước giải thích - bình luận - chứng minh không nhất quán. Vì thế, về mặt tổng thể bài viết sẽ không có sức thuyết phục, không thỏa mãn được yêu cầu đặt ra. Chương trình sách giáo khoa chỉ đưa ra những bài học thuần túy cung cấp kiến thức lí luận văn học như: Văn bản văn học, Phong cách văn học, Quá trình văn học, Giá trị văn học, Tiếp nhận văn học Với học sinh giỏi kiến thức thôi chưa đủ. Thực tế cho 5
  6. thấy nhiều em không có “năng lực” xử lí kiến thức sao cho khéo léo, nhuần nhuyễn, hợp lí. Như trên đã nói, cần phải hình thành năng lực, kĩ năng cảm nhận và làm bài cho các em. Theo chúng tôi, muốn nâng cao chất lượng bài viết của học sinh giỏi, cũng là nâng cao chất lượng của môn Ngữ văn thì cần phải làm tốt việc rèn kĩ năng cho học sinh. Căn cứ vào lí do nêu trên, sáng kiến này chúng tôi hướng đến Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi môn Ngữ văn ở trường THPT. 6. MỤC ĐÍCH CỦA GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN - Thứ nhất: Khái quát cơ sở lí luận và thực tiễn để giáo viên và học sinh có cái nhìn khái quát về văn nghị luận, thao tác chứng minh trong bài văn nghị luận dành cho học sinh giỏi; những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh trong việc dạy - học kĩ năng chứng minh. Từ đó hình thành phương pháp tư duy khoa học, chặt chẽ cho HSG văn. Đề xuất một số phương pháp trang bị tri thức và rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài lí luận văn học. - Thứ hai: Hướng dẫn chi tiết học sinh thực hành thao tác chứng minh thông qua các dạng bài cụ thể. Do đó đề tài sẽ là một công cụ đắc lực hướng dẫn HS kĩ năng vận dụng, từ đó HS sẽ thuần thục trong khâu chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học, là tiền đề quan trọng giúp cho bài viết của HS thuyết phục được người đọc. - Thứ ba là đối với GV: Đề tài là một cơ hội để chúng tôi giao lưu với các đồng nghiệp về chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Với mục tiêu trình bày vấn đề một cách dễ hiểu và các nội dung nêu ra có thể phục vụ cho mục đích thiết thực nhất của công tác bồi dưỡng HSG Ngữ văn; chúng tôi chủ trương trình bày từ lí thuyết đến thực hành, từ nội dung khái quát đến những vấn đề chi tiết. 7. NỘI DUNG 7.1. THUYẾT MINH GIẢI PHÁP CẢI TIẾN 7.1.1. Giải pháp 1: Củng cố cho học sinh những kiến thức cơ bản về văn nghị luận; thao tác chứng minh trong bài nghị luận dành cho HSG môn Ngữ văn a. Nội dung giải pháp: Để việc rèn kĩ năng viết phần chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi có hiệu quả, chúng tôi thực hiện khâu củng cố kiến thức, 6
  7. giúp học sinh nắm chắc đặc điểm, cấu tạo, vai trò của văn nghị luận và thao tác chứng minh trong bài văn nghị luận. Đây là phần kiến thức học sinh đã được trang bị từ cấp học THCS, song học rải rác ở các khối lớp, không hệ thống, thường mang tính lý thuyết đơn thuần. Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện củng cố kiến thức bằng các hình thức: Dạy trực tuyến kiến thức, kĩ năng về văn nghị luận và thao tác chứng minh trong bài lí luận văn học,giao bài tập cho học sinh tự củng cố kiến thức tại nhà, kiểm tra việc nắm kiến thức cơ bản tại lớp. b. Các bước tiến hành b.1. Hệ thống hóa, củng cố cho học sinh những kiến thức cơ bản về văn nghị luận: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghị luận: Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó. Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề”. Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu: “Văn nghị luận: Thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hoá. Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết. Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ”. Có thể bao quát về văn nghị luận như sau: Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết (người nói) đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất. Như vậy, có thể hiểu: Văn nghị luận là một loại văn bản nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về các vấn đề văn học, chính trị, đạo đức, lối sống... và được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề nghị luận (luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (luận chứng). Văn nghị luận là văn của tư duy lôgic cho nên các yếu tố tạo nên nội dung của nó là các sản phẩm của tư duy trừu tượng, thường được gọi là các luận điểm (các ý). Văn nghị luận cũng có dùng các yếu tố miêu tả, tự sự trong các dẫn chứng thực tế, thậm chí còn dùng cả các yếu tố của thông tin tình cảm, nhưng đại bộ phận nội dung của nó là các luận điểm. Luận điểm là ý kiến xác định của người viết về vấn đề được đặt ra. Ví dụ, 7
  8. nhận định về nghệ thuật của Truyện Kiều, Hoài Thanh nêu ra luận điểm: Nguyễn Du đã tái tạo lại cuộc sống đương thời và sáng tạo ra một thế giới có thật. Để thuyết minh cho luận điểm lớn, người ta thường đề xuất các luận điểm nhỏ. Một bài văn nghị luận có thể có một số luận điểm lớn và nhiều luận điểm nhỏ. Các luận điểm ấy liên kết với nhau để soi sáng, thuyết minh cho luận điểm lớn của bài. Nội dung cụ thể của luận điểm trong từng bài văn nghị luận rất đa dạng. Luận điểm trong bài văn nghị luận có vị trí, tầm quan trọng khác nhau. Trong văn nghị luận, muốn có được luận điểm chính xác thì phải có hai điều kiện: có nhiều luận cứ đáng tin cậy và có cách luận chứng đúng đắn thuyết phục. Luận cứ là các tài liệu dùng làm cơ sở thuyết minh cho luận điểm. Có hai loại luận cứ: thực tế (của đời sống và văn học được dùng làm dẫn chứng) và lí lẽ (các nguyên lí, chân lí, ý kiến đã được công nhận). Luận cứ của lập luận phải chân thực, xác đáng và toàn diện. Muốn vậy, khi sử dụng luận cứ, phải xem xét, cân nhắc, thẩm tra, nhất là những luận cứ then chốt. Mối quan hệ giữa luận điểm và luận cứ rất khăng khít, chặt chẽ: luận điểm đứng được là dựa vào luận cứ, còn luận cứ nêu ra là để phục vụ cho luận điểm. Trong nội bộ các luận cứ, lí lẽ và dẫn chứng cũng soi sáng cho nhau: lí lẽ tạo cho dẫn chứng khả năng thuyết minh cho luận điểm, còn dẫn chứng thực tế lại làm cho lí lẽ có nội dung, có sức nặng. Có luận điểm, luận cứ rồi, còn phải biết làm cho luận cứ nói lên luận điểm, làm sao cho lí lẽ và dẫn chứng thực tế phối hợp với nhau để thuyết minh cho luận điểm một cách mạnh mẽ, nổi bật, thuyết phục. Muốn vậy thì phải biết cách luận chứng. Luận chứng là sự phối hợp, tổ chức các lí lẽ và dẫn chứng để thuyết minh cho luận điểm. Thực chất của luận chứng là cách đưa luận cứ vào quỹ đạo lôgic để tạo thành sức thuyết phục. Luận chứng phải chặt chẽ, dẫn chứng phải được phân tích, giải thích thì mới có giá trị chứng minh. Luận chứng phải tránh cực đoan, một chiều, phải biết lật đi lật lại để xem xét cho cạn hết lí lẽ. Nội dung của bài văn nghị luận không phải là sự liệt kê tùy tiện các ý. Chúng phải được tổ chức, liên kết ý, tức là chúng phải được nối với nhau theo những quan hệ nhất định. Cách trình bày chúng từ đầu bài đến cuối bài phải theo những cách thức, quy tắc nhất định. Nội dung của bài văn nghị luận có thể xem là một tổ chức của chủ đề, ý lớn, ý nhỏ thành một hệ thống, một cấu trúc chặt chẽ. Bài văn nghị luận không chỉ có các yếu tố tạo nên nội dung mà còn cần có các thao tác tổ chức nên nội dung. Điều đó có liên quan đến các cách trình bày nội dung trong 8
  9. đoạn văn và các thao tác lập luận của văn nghị luận như: Phân tích và tổng hợp, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ... Các cách trình bày nội dung và các thao tác lập luận phải được vận dụng phù hợp và linh hoạt trong bài văn nghị luận. Làm bài văn nghị luận là một quá trình gồm hai giai đoạn là tổ chức bài văn (còn gọi là tạo ý hay lập ý) và thực hiện bài văn (còn gọi là hành văn). Ở giai đoạn thứ nhất, ta thực hành hai công việc chính là tìm hiểu đề và lập dàn bài. Giai đoạn tổ chức bài văn chính là quá trình chuẩn bị chất liệu, những nguyên vật liệu để xây dựng bài văn. Đó là bước phân tích đề, các luận điểm, luận cứ, các ý lớn, ý nhỏ...; Các dẫn chứng thơ văn phục vụ trực tiếp cho bài văn, các dẫn chứng thơ văn liên quan dùng để liên hệ so sánh; Các nhận định của các nhà nghiên cứu phê bình văn học, của SGK... có liên quan đến vấn đề cần nghị luận. Sau khi đã tìm hiểu đề, chuẩn bị chất liệu cho bài văn, cần lập thành dàn bài, tức là tìm ý và chọn lựa, sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo một trật tự hợp lí để làm sáng tỏ luận đề. Ở giai đoạn thứ hai, giai đoạn thực hiện bài văn, trên cơ sở những ý đã được phác thảo ở dàn bài, ta viết các câu văn/ đoạn văn và hoàn thành, chỉnh sửa bài viết. b.2. Hệ thống hóa, củng cố cho học sinh về thao tác chứng minh trong bài văn nghị luận dành cho HSG môn Văn * Thao tác chứng minh trong bài văn nghị luận Thao tác lập luận chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề; là dùng các lí lẽ, chứng cứ xác thực, đáng tin cậy, được mọi người thừa nhận để khẳng định một luận điểm (ý kiến, nhận định, đánh giá) đúng hay sai, có lợi hay hại, đáng tin hay không đáng tin. Có thể chứng minh một vấn đề văn học như: Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có (Hoài Thanh). Chứng minh một vấn đề văn học là dùng dẫn chứng văn học là chủ yếu và lí lẽ để khẳng định một nhận định về văn học. Thông thường việc chứng minh bao gồm các bước: - Xác định luận đề cần chứng minh - Đưa ra dẫn chứng phù hợp - Phân tích dẫn chứng ở khía cạnh chứng minh cho luận đề - Khẳng định luận đề đã được chứng minh 9
  10. * Vị trí của thao tác chứng minh trong bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho HSG môn Ngữ văn Thao tác chứng minh đòi hỏi chúng ta phải làm sáng tỏ chân lí bằng các dẫn chứng và lí lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái chân lí thể hiện trong một ý kiến, nhận định nào đó, ta sẽ phải thuyết phục người khác cùng chấp nhận. Phương tiện để thuyết phục người khác là những dẫn chứng rút ra từ văn học và kèm theo dẫn chứng là những lí lẽ dẫn dắt, phân tích tạo ra những lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho người đọc. Đối với kiểu bài lí luận văn học dành cho học sinh giỏi, đối tượng bàn luận có thể là một ý kiến, nhận định về lí luận văn học. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức toàn diện về văn học sử, lí luận văn học bởi lẽ đề lí luận văn học sẽ đa dạng, phong phú, liên quan đến nhiều đơn vị tri thức khác nhau. Khi viết bài, yêu cầu học sinh phải giải thích ý kiến, rút ra vấn đề nghị luận, dùng kiến thức lí luận để bàn luận vấn đề, sau đó chứng minh bằng các tác phẩm cụ thể. Từ việc khảo sát một loạt các đề thi chọn học sinh giỏi tỉnh Bắc Giang môn ngữ văn những năm gần đây, có thể nhận thấy, câu hỏi NLVH đều có hình thức đưa ra nhận định và yêu cầu học sinh bình luận, đặc biệt các đề đều không có yêu cầu cụ thể, không hạn định về ngữ liệu để chứng minh. Các đề đều hướng đến yêu cầu học sinh bằng trải nghiệm văn học, sự hiểu biết về các tác phẩm văn học chọn dẫn chứng là các tác phẩm nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Muốn giải quyết yêu cầu này của đề, học sinh ngoài việc cần vận dụng thao tác giải thích để xác định vấn đề LLVH được nêu ra, việc học sinh cần lựa chọn đúng, hợp lí dẫn chứng chứng minh là điều vô cùng cần thiết. Phần phân tích và chứng minh trong bài văn nghị luận về vấn đề lí luận văn học chiếm một vị trí quan trọng quyết định việc bài văn có được triển khai đúng hướng, vấn đề có được sáng rõ hay không và khả năng cảm thụ văn chương của học sinh như thế nào. Nhận thức được tầm quan trọng của việc lựa chọn dẫn chứng, ngữ liệu phân tích, chứng minh trong bài văn sẽ khiến cả giáo viên và học sinh có thái độ đúng đắn và dành thời gian thích đáng để rèn luyện kĩ năng này. * Một số hình ảnh minh chứng dạy trực tuyến về kiến thức, kĩ năng làm đề lí luận văn học cho học sinh Đội tuyển HSG tỉnh của trường THPT Chuyên Bắc Giang 10
  11. c. Kết quả đạt được: Học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, không phải là tiếp thu một cách thụ động những tri thức đã được GV sắp đặt. HS chủ động học tập kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng chứng minh nhận định lí luận văn học, bước đầu định hướng các biện pháp bồi dưỡng kĩ năng làm văn nghị luận cho HS, giúp HS tự tin, chủ động, sáng tạo trong làm bài. Qua thực tế áp dụng việc hướng dẫn học sinh tự củng cố kiến thức về văn nghị luận và thao tác chứng minh trong văn nghị luận dạng đề lí luận văn học khi giảng dạy, bồi dưỡng HSG cấp tỉnh, HSG quốc gia, chúng tôi nhận thấy bài viết của học sinh đã khắc phục được một số lỗi cơ bản trong kĩ năng chứng minh nhận định lí luận văn học qua tác phẩm văn học. 12
  12. 7.1.2. Giải pháp 2: Sử dụng sơ đồ tư duy để khái quát hệ thống tác phẩm cho phần chứng minh và đọc, tích lũy kiến thức nâng cao về tác giả, tác phẩm a. Nội dung giải pháp: Đối với kì thi học sinh giỏi môn văn ở bậc THPT, kiểu bài lí luận văn học rất phổ biến. Tuy nhiên, để làm tốt kiểu bài lí luận văn học, học sinh cần có kiến thức vững chắc về hệ thống tác phẩm trong chương trình. Vì đây sẽ là nguồn tư liệu chính học sinh sẽ sử dụng để làm sáng tỏ cho các vấn đề lí luận được đặt ra qua các đề bài cụ thể. Bên cạnh đó, để mở rộng vốn kiến văn, học sinh cần trang bị cho mình cả kiến thức của những tác phẩm ngoài chương trình, nhất là những tác phẩm đỉnh cao của văn học Việt Nam và thế giới. Qua khảo sát các đề thi học sinh giỏi quốc gia của những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy đề thi có nhiều thay đổi nhằm điều chỉnh lại thực tiễn dạy học, mở rộng hiểu biết về văn học cho học sinh. Nhiều đề văn được ra theo kiểu đề mở gây được hứng thú cho học sinh giỏi, kích thích được sự say mê, sáng tạo của các em. Chúng tôi nhận thấy có những hướng ra đề như sau: Đề bài đưa ra một ý kiến, nhận định của một nhà nghiên cứu lí luận, của người sáng tác..., yêu cầu học sinh giải thích, bình luận ý kiến và làm sáng tỏ bằng một hoặc một vài tác phẩm văn học. Mục đích của dạng đề này là kiểm tra kiến thức về lí luận văn học và khả năng vận dụng, soi sáng vấn đề lí luận đó bằng sự cảm thụ tác phẩm văn học cụ thể; nghĩa là gắn lí luận văn học với việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Qua lí luận văn học, học sinh có căn cứ khoa học để định giá tác phẩm, ngược lại qua các tác phẩm người viết hiểu và biết khái quát nâng cao thành những vấn đề lí luận cơ bản. Đề bài cũng có thể đưa ra một ý kiến, nhận định về lí luận văn học nhưng không yêu cầu học sinh phân tích tác phẩm văn học cụ thể nào, học sinh bằng trải nghiệm văn học của mình có thể tự chọn tác phẩm để làm minh chứng. Với dạng đề này, người viết sẽ gặp nhiều khó khăn, thử thách hơn vì chọn được đúng, trúng tác phẩm để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của đề không phải dễ dàng. Tìm hiểu một số đề thi HSG tỉnh Bắc Giang của những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy rất nhiều đề thuộc kiểu bài lí luận văn học. Những hướng ra đề này đều đòi hỏi học sinh có kiến thức và kĩ năng để bàn về một vấn đề lí luận văn học, đặc biệt cần có năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học. Năm Đề thi HSG tỉnh Bắc Giang 13
  13. 2019 Nhà văn Tô Hoài cho rằng: Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời. Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm rõ những hiểu biết của mình qua việc cảm nhận sự chấp nhận cuộc sống lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa của Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) và sự cam chịu đầy nhẫn nhục đến mức không thể nào hiểu nổi của người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu). 2020 Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc, đó cũng là hạt nhân làm nên dấu ấn của nhà thơ. Hãy bình luận ý kiến trên qua việc cảm nhận 2 đoạn thơ sau: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” (Tây Tiến – Quang Dũng) Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. (Việt Bắc – Tố Hữu) 2021 Trong bài viết Khát vọng qua những trang viết, nhà văn Bùi Hiển đã chia sẻ mong muốn: Mỗi truyện ngắn phải là một sự phát hiện bất ngờ về con người. (Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Giáo dục, 2000, tr. 223) Theo anh/chị, phát hiện bất ngờ về con người trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân là gì? 2022 Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà văn, làm cho văn bản ngôn từ trở thành tác phẩm nghệ thuật. (Trích: Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2 (2005), NXB Giáo dục, trang 262) Hãy làm rõ tiêu điểm sáng tạo của nhà văn qua một tác phẩm văn học trong chương trình lớp 12 mà anh/chị tâm đắc. 2023 Nhà phê bình văn học Bêlinxki đã khẳng định: Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sốngchỉ để miêu tả, nếu nó không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại 14
  14. (Lí luận văn học, Hà Minh Đức – Chủ biên, NXB Giáo dục, 2001, tr.28) Bằng những trải nghiệm khi đọc tác phẩm văn học, anh/ chị hãy trình bày quan điểm của mình về ý kiến trên. Một vấn đề lí luận chỉ có thể được sáng rõ và thấm nhuần khi soi chiếu vào tác phẩm, thực tiễn sáng tác. Trong kiểu bài lí luận văn học, học sinh cũng cần phải đảm bảo những kiến thức về tác giả, tác phẩm văn học... để soi sáng, làm rõ vấn đề lí luận văn học mà đề yêu cầu bàn luận. Đó là kiến thức về tác phẩm (hoặc kiến thức văn học sử, kiến thức về tác giả...) mà đề bài có thể cho sẵn, có thể yêu cầu học sinh tự chọn. Khi sử dụng kiến thức văn học cần chú ý chọn kiến thức thực tiễn về tác giả, tác phẩm để minh chứng cho phù hợp với vấn đề lí luận văn học trong đề bài, xác định những kiến thức văn học trọng tâm, kiến thức văn học phụ trợ... Bài viết cần có nền tảng kiến thức về tác phẩm rộng, sâu. Cần lưu ý là bài viết không chỉ minh chứng bằng những tác phẩm văn học Việt Nam mà có thể chọn cả những tác phẩm văn học nước ngoài để chứng minh cho vấn đề lí luận. Không chỉ chọn tác phẩm văn học trong chương trình mà còn phải biết chọn những tác phẩm văn học ngoài chương trình. Việc học sinh chọn minh chứng bằng những tác phẩm văn học nước ngoài, tác phẩm văn học ngoài chương trình cũng có thể là một tiêu chí đánh giá năng lực của học sinh giỏi. Việc đọc thêm những tác phẩm văn học nước ngoài làm cho vấn đề lí luận được nhìn nhận rộng hơn, sâu hơn, mang tính phổ quát hơn. Khi sử dụng kiến thức về tác phẩm văn học cần thể hiện sự hiểu biết chính xác và phong phú. Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống trong cuốn Tài liệu chuyên văn, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, học sinh cần nắm được nội dung tác phẩm: Cốt truyện, tính cách nhân vật chính, những tình tiết quan trọng, chi tiết độc đáo,... (tác phẩm tự sự); những câu thơ hay, hình ảnh tinh tế,... (tác phẩm trữ tình). Có khi cần chính xác đến cả dấu câu và cách ngắt nhịp đặc biệt..., để khi phân tích có thể khai thác được cái hay, cái đẹp vốn có của tác phẩm văn chương. Học sinh cũng cần nắm được hệ thống kiến thức tác phẩm văn học, không chỉ ở chỗ nhớ nhiều mà phải hiểu được cái hay về nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm ấy... để sử dụng dẫn chứng một cách linh hoạt trong bài viết. Ngoài những kiến thức về lí luận văn học và tác phẩm, chúng tôi hướng dẫn học sinh đọc, ghi chép, tích lũy những kiến thức về văn hóa, đời sống, các ngành khoa học, nghệ thuật, các lĩnh vực chính trị, xã hội..., tuy có thể không sử dụng trực tiếp trong bài văn nhưng cũng là cơ sở làm cho bài viết của học sinh sâu rộng, vững vàng hơn. 15
  15. b. Cách thức tiến hành b.1. Hướng dẫn học sinh vẽ và sử dụng sơ đồ tư duy để khái quát hệ thống tác phẩm cho phần chứng minh Để giúp học sinh giải quyết những khó khăn đó, dưới đây chúng tôi sẽ hướng dẫn học sinh cách hệ thống các tác phẩm chứng minh bằng sơ đồ tư duy: 16
  16. b.2. Hướng dẫn học sinh đọc, tích lũy kiến thức nâng cao về tác giả, tác phẩm 17
  17. Kiến thức lí luận văn học chỉ có thể được làm sáng tỏ khi soi chiếu vào tác phẩm, vào thực tiễn sáng tác. Khi làm bài, bên cạnh kiến thức lí luận văn học, học sinh cũng cần phải đảm bảo những kiến thức về tác giả, tác phẩm văn học... để soi sáng, làm rõ vấn đề lí luận văn học mà đề yêu cầu bàn luận. Đó là kiến thức văn học về tác phẩm, kiến thức văn học sử, kiến thức về tác giả... Chúng tôi hướng dẫn học sinh làm vở tự học, tự bồi dưỡng, chia thành các mục ghi chép kiến thức nâng cao về tác giả, tác phẩm. Qua khảo sát bài viết có thể thấy, học sinh thường hạn chế trong việc trang bị kiến thức nâng cao về tác giả, tác phẩm. Vì thế sẽ dẫn đến thực tế bài viết: + Không chắc kiến thức văn học sử: nhớ lẫn lộn các giai đoạn, các thời kì trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc; không nắm được đặc điểm, nguồn gốc và hoàn cảnh ra đời của một trào lưu, một xu hướng văn học + Không nhuần nhuyễn kiến thức tác phẩm: không nhớ được những chi tiết, những câu thơ, câu văn tiêu biểu dẫn đến việc cảm thụ, phân tích tác phẩm sơ sài, không có chiều sâu. Chẳng hạn đề bài yêu cầu phân tích chứng minh bằng một tác phẩm văn xuôi, nếu không nắm vững kiến thức tác phẩm nhiều học sinh sẽ sa vào kể lể, tóm tắt tác phẩm chứ không phải là phân tích để làm sáng tỏ ý kiến. Trong khi, đề yêu cầu phân tích tác phẩm thơ, học sinh lại đi diễn xuôi tác phẩm chứ không cảm thụ từ ngữ, hình ảnh. Có trường hợp khi trích dẫn tác phẩm ngoài chương trình, học sinh hiểu sai nội dung ý nghĩa của tác phẩm, suy diễn, áp đặt kiến thức thậm chí còn ghi nhầm tên tác giả, tác phẩm. Nguyên nhân của những hạn chế trên có thể xuất phát từ việc học sinh mang tâm lí học tủ, chỉ tập trung vào tác phẩm mình yêu thích mà học qua loa những tác phẩm không phải sở trường, không thuộc gu tiếp nhận. Hơn nữa, với kiểu bài lí luận văn học nếu học sinh không có ý thức tự học, tự trau dồi để mở rộng kiến văn thì khi viết bài sẽ hạn chế hiểu biết về tác giả, kiến thức về văn học sử. Đặc biệt cần lưu ý là khi viết bài ngoài việc ưu tiên những tác phẩm văn học trong chương trình còn phải biết chọn những tác phẩm văn học ngoài chương trình. Việc học sinh chọn minh chứng bằng những tác phẩm ngoài chương trình có thể coi là một tiêu chí đánh giá năng lực của học sinh giỏi nhưng cũng là một thử thách thực sự với các em. Nếu không viết chắc tay, chưa thật sự ngấm tác phẩm, chưa được gợi dẫn, định hướng cách khai thác sẽ khiến cho việc cảm thụ sơ sài hoặc lệch lạc, chệch với ý đồ nghệ thuật của người sáng tác, không thỏa mãn yêu cầu đề bài đặt ra. Với kiểu bài lí luận văn học dành cho học sinh giỏi, đối tượng bàn luận có thể là một ý kiến, nhận định về văn học sử hoặc về lí luận văn học. Kiểu bài này đòi hỏi học 18
  18. sinh phải có kiến thức toàn diện về văn học sử, lí luận văn học bởi lẽ đề lí luận văn học sẽ đa dạng, phong phú, liên quan đến nhiều đơn vị tri thức khác nhau. Khi viết bài, yêu cầu học sinh phải giải thích ý kiến, rút ra vấn đề nghị luận, dùng kiến thức lí luận để bàn luận vấn đề, sau đó chứng minh bằng các tác phẩm cụ thể. Phân tích tác phẩm để chứng minh cho một ý kiến, một nhận định không phải là phân tích, cảm thụ đơn thuần mà là phân tích tác phẩm theo định hướng lí luận. Tức là xem xét những khía cạnh của tác phẩm góp phần làm sáng tỏ vấn đề lí luận được đề cập đến ở đề bài. Hay nói cách khác, nếu không tích hợp kiến thức lí luận văn học với kiến thức tác phẩm sẽ không giải quyết được yêu cầu của đề. Muốn chứng minh cho một vấn đề lí luận văn học nào đó, khi phân tích tác phẩm đòi hỏi học sinh phải vận dụng một hoặc một vài tác giả, tác phẩm văn học cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ra ở phần giải thích, bình luận. Chứng minh bằng tác phẩm không phải là sao chép nguyên si, máy móc toàn bộ kiến thức về tác phẩm vào bài viết mà cần bám sát vào định hướng của đề bài để lựa chọn, chắt lọc những đơn vị kiến thức phù hợp. Cần có hệ thống luận điểm theo đúng yêu cầu của đề để làm rõ vấn đề lí luận được nêu ra. Cũng cần lưu ý thêm, để chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề lí luận qua tác phẩm văn học, học sinh cần biết tích hợp kiến thức lí luận về đặc trưng thi pháp thể loại để phân tích, cảm thụ tác phẩm. Đề bàn về một vấn đề lí luận văn học không tách rời với việc phân tích cảm thụ tác phẩm văn học. Ngay cả những đề tưởng như chỉ yêu cầu bàn luận thuần túy về lí luận văn học thì cũng không có nghĩa là học sinh chỉ biết bàn bạc xung quanh các kiến thức lí luận văn học. Bao giờ đề bài đề bài cũng yêu cầu học sinh phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề. Một trong những cách luyện kĩ năng vận dụng kiến thức tác phẩm để soi sáng cho vấn đề lí luận văn học là phải phân biệt giữa phân tích tác phẩm thông thường với phân tích tác phẩm theo định hướng lí luận văn học. Qua thực tế giảng dạy, bồi dưỡng, chúng tôi nhận thấy bài viết của học sinh thường non ở kĩ năng chứng minh do không nắm vững kiến thức nền về tác phẩm; tầm tri thức về tác giả, tác phẩm chưa có độ sâu, rộng. Để khắc phục hạn chế này, chúng tôi hướng dẫn học sinh nâng cao khả năng tự đọc, tự nghiên cứu, mở rộng vốn kiến văn về tác giả, tác phẩm. Thứ nhất, về tác giả, ngoài những tri thức được cung cấp trong phần “Tiểu dẫn” của sách giáo khoa, học sinh phải tự tìm hiểu, trang bị kiến thức cho mình dựa theo gợi ý sau: 19
  19. + Tìm hiểu tiểu sử tác giả: năm sinh - mất, thời đại, quê hương, gia đình, đặc điểm con người, những dấu mốc lớn trong cuộc đời Trông đó, đặc biệt lưu ý tới những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp sáng tác và phong cách nhà văn. Ví dụ 1: Khi tìm hiểu tiểu sử nhà văn Thạch Lam, cần chú ý đến các yếu tố: ++ Xuất thân trong gia đình có truyền thống văn học. ++ Nhiều năm năm ấu thơ sống cùng mẹ và chị tại phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương (quê ngoại). Đây là không gian nghệ thuật trở đi trở lại trong sáng tác của Thạch Lam. ++ Đặc điểm con người Thạch Lam: trầm tĩnh, kín đáo thiên về đời sống nội tâm, có tâm hồn đa cảm, tinh tế; không thích sự ồn ào, khoa trương, ít khi phản ứng một cách bồng bột, mạnh mẽ. Trong từng hành động nhỏ đều cẩn trọng, chân thành, dường như đặt vào đó rất nhiều suy nghĩ và thái độ nâng niu. Văn tức là người. Không một sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó (Thế Lữ). Ví dụ 2: Khi tìm hiểu về tác giả Nguyễn Tuân, học sinh chú ý khai thác sâu ở những khía cạnh sau: ++ Xuất thân, quê quán: Nguyễn Tuân sinh ra ở Phố Hàng Bạc, Hà Nội, trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Thân sinh: cụ tú Nguyễn An Lan - một nhà nho tài hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng, suốt đời ôm nỗi bất đắc chí. Từ nhỏ, Nguyễn Tuân đã được nuôi dưỡng trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc tới tư tưởng, cá tính, sáng tác của Nguyễn Tuân. ++ Nguyễn Tuân được theo gia đình sống ở nhiều nơi Vì thế, ông ham thích “xê dịch”. “Chủ nghĩa xê dịch” trở thành một đề tài trong sáng tác của Nguyễn trong sáng tác của ông. ++ Đặc điểm con người: Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ có bản lĩnh, nhân cách, giàu lòng tự trọng và có tinh thần dân tộc; ý thức cá nhân phát triển rất cao; tài hoa, uyên bác, am hiểu nhiều ngành nghệ thuật Ví dụ 3: Tác giả Nam Cao: ++ Quê hương: làng Đại Hoàng, Lí Nhân, Hà Nam. ++ Xuất thân: gia đình nông dân nghèo, đông con ++ Cuộc đời: nhiều thăng trầm, đói nghèo đeo bám dai dẳng ++ Đặc điểm con người: 20