Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11 Bộ sách KNTT NXB Giáo dục
Bạn đang xem tài liệu "Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11 Bộ sách KNTT NXB Giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
su_dung_phuong_phap_day_hoc_dong_vai_de_phat_trien_nang_luc.pdf
Nội dung tài liệu: Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11 Bộ sách KNTT NXB Giáo dục
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BẮC GIANG TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI ****** BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TRƯỜNG CHU KỲ 2023-2025 Tên giải pháp: “Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11”- Bộ sách KNTT NXB Giáo dục. Họ và tên: Ngô Thị Tiến Môn giảng dạy: Sinh học Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THPT Giáp Hải Bắc Giang, tháng 01 năm 2025
- PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 của Việt Nam được xây dựng với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại, hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh. Chương trình hướng đến việc phát triển học sinh toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cần thiết để: - Làm người công dân tốt: Có đạo đức, trách nhiệm, sống nhân ái, đoàn kết và tôn trọng luật pháp. - Tự học suốt đời: Có tư duy sáng tạo, khả năng tự học và tự giải quyết vấn đề. - Hội nhập và làm việc hiệu quả: Có kỹ năng giao tiếp, hợp tác, sử dụng công nghệ thông tin, làm việc trong môi trường đa văn hóa. Với mục tiêu của chương trình GDPT 2018 yêu cầu người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: - Lấy học sinh làm trung tâm. - Chú trọng các hoạt động trải nghiệm, thực hành. - Kết hợp đa dạng các hình thức học tập như làm việc nhóm, học tập dựa trên dự án, học qua thực tế. Trong bối cảnh cải cách giáo dục toàn diện hiện nay, việc phát triển các năng lực mềm, đặc biệt là năng lực giao tiếp, đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với người học trong thế kỷ 21. Năng lực giao tiếp không chỉ giúp học sinh tăng cường tương tác trong lớp học mà còn trang bị cho học sinh những kỹ năng thiết yếu để thích ứng vào môi trường xã hội đầy biến động. Tuy nhiên, việc phát triển năng lực giao tiếp thường chưa được chú trọng đúng mức trong các tiết học chính khóa. Môn Sinh học 11, với đặc thù tập trung vào các chủ đề gắn liền với đời sống tự nhiên và xã hội, mở ra những cơ hội lý tưởng để tích hợp các phương pháp dạy học nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp. Trong đó, phương pháp dạy học đóng vai mang lại nhiều tiềm năng vượt trội, giúp học sinh trải nghiệm các tình huống thực tế, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, lắng nghe và tương tác một cách chủ động. Trong bối cảnh triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (NXB Giáo dục Việt Nam), các hoạt động dạy học đã được thiết kế nhằm tăng cường tương tác và phát triển kỹ năng của học sinh. Do đó, việc nghiên cứu giải pháp "Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11" không chỉ mang tính thuyết phục về mặt khoa học, mà còn có tính thiết thực cao, góp phần giải quyết những thách thức trong việc đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu thời đại. Từ những lý do trên, tôi đã nghiên cứu và áp dụng giải pháp "Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11"- Bộ sách KNTT NXB Giáo dục, với mong muốn mang đến một môi trường học tập sôi nổi, giàu tính trải nghiệm và phát triển toàn diện giúp các em có động lực phát triển tối đa năng lực của bản thân, hình thành nhân cách tốt. Đồng thời góp phần hoàn thành mục tiêu của chương trình GDPT 2018 mà ngành Giáo dục đang hướng đến. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác giảng dạy và học môn Sinh học ở trường THPT Giáp Hải
- Trường THPT Giáp Hải nằm trên địa bàn xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang, là một trong 5 trường THPT công lập thành lập sau các trường THPT Chuyên Bắc Giang, THTP Ngô Sỹ Liên, THPT Thái Thuận, THPT Dân tộc nội trú tỉnh. Trường THPT Giáp Hải được thành lập từ ngày 16 tháng 6 năm 2011 theo quyết định số 219/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Giang. Trường ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của con em nhân dân trên địa bàn cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đa số học sinh học tập tại trường THPT Giáp Hải có hộ khẩu thường trú tại các xã Tân Tiến, Song Khê, Đồng Sơn, Tân Mỹ, Mĩ Độ, Tăng Tiến, Nghĩa Trung, Với đặc thù là một ngôi trường thành lập sau các trường THPT đóng trên địa bàn thành phố Bắc Giang và vị trí trường nằm cách trung tâm thành phố khoảng 3,5 km nên việc tuyển sinh của nhà trường khoảng 10 năm đầu gặp nhiều khó khăn, chất lượng đầu vào của học sinh còn thấp nhất trong số các trường THPT công lập trên toàn tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên khoảng 3 năm trở lại đây, việc tuyển sinh đầu vào của nhà trường có thuận lợi hơn trước, số lượng học sinh đăng kí dự thi vào trường đông trong top đầu của tỉnh, điểm chuẩn đỗ vào trường cũng được nâng lên khá nhiều so với những năm học trước nhưng số học sinh có điểm cao trội vào trường thì không có hoặc chiếm tỉ lệ rất thấp. Điểm chuẩn vào trường vẫn thấp hơn nhiều so với nhiều trường THPT trong địa bàn thành phố và một số trường huyện lân cận. Vì vậy việc học tập, lĩnh hội kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế của học sinh còn nhiều hạn chế nên việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho học sinh của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn. Trong quá trình giảng dạy môn Sinh học tại trường THPT Giáp Hải tôi nhận thấy nếu chỉ đưa ra những câu hỏi đơn thuần trong một tiết học thì một tiết học sẽ rất khô khan, học sinh không có hứng thú học tập, kết quả đạt được còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu và áp dụng giải pháp "Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11"- Bộ sách KNTT NXB Giáo dục thì bài học sẽ hay hơn, sinh động hơn rất nhiều, học sinh hứng thú học tập hơn. Bởi vì phương pháp này: - Gắn kiến thức với thực tiễn, giúp học sinh hiểu rõ ứng dụng. - Phát triển kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, và thuyết trình. - Tạo môi trường học tập tích cực, kích thích trí tưởng tượng và sáng tạo. - Làm không khí lớp học sôi nổi, giảm căng thẳng, tăng hứng thú học tập. - Đáp ứng đa dạng phong cách học tập, giúp mỗi học sinh phát huy thế mạnh. Qua quá trình áp dụng giảng dạy trong một thời gian tôi thấy học sinh có hứng thú hơn với bộ môn, kết quả học tập được nâng nên rõ rệt, tỉ lệ học sinh yếu kém đã giảm đi rất nhiều, số lượng học sinh khá giỏi ngày càng được nâng cao. Trong quá tình giảng dạy môn Sinh học tại trường THPT Giáp Hải, tôi nhận có những ưu điểm và hạn chế sau: Chuyển về công tác tại trường THPT Giáp Hải, từ năm học 2019 -2020 tới nay tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công làm công tác chủ nhiệm lớp 3 năm học với 2 khoá học sinh. Tôi nhận thấy công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Giáp Hải có những ưu điểm và hạn chế sau: 1.Ưu điểm Công tác giảng dạy luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Sở GD & ĐT Bắc Giang và của lãnh đạo trường THPT Giáp Hải. Tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, đồng sức, đồng lòng vì sứ mệnh cao cả trong sự nghiệp trồng người, chăm lo vun đắp cho các thế hệ học sinh.
- Cơ sở vật chất của trường, lớp tương đối đầy đủ, khang trang nên thuận lợi cho công tác giáo dục như giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục, Được sự qua tâm và phối hợp của các tổ chức trong và ngoài nhà trường. Đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội. Sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin tạo thuận lợi cho sự phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Trường nằm xa trung tâm thành phố, khuôn viên rộng rãi xanh sạch đẹp, môi trường thân thiện yên tĩnh nên học sinh đỡ bị ảnh hưởng tiêu cực từ những mặt trái của xã hội. Bản thân đã có nhiều năm công tác, có lòng yêu nghề, nhiệt tình, có trách nhiệm cao trong công việc, có ý thức tự học và trau dồi chuyên môn nghiệp vụ. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1. Về phía giáo viên Phương pháp giảng dạy nặng lý thuyết, ít hoạt động thực tế do phải tập trung hoàn thành chương trình, chưa chú trọng thiết kế bài giảng phù hợp với học sinh trung bình. Chưa chú trọng phát triển kỹ năng mềm cho học sinh, ít tạo cơ hội cho học sinh thực hành giao tiếp và thảo luận do thiếu kinh nghiệm trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như đóng vai. 2.2. Về phía học sinh Học sinh thụ động, thiếu tự tin và ngại giao tiếp do học lực trung bình, quen học thuộc lòng, ít tham gia hoạt động nhóm hoặc thực hành, ít rèn luyện kỹ năng mềm. Thiếu hứng thú và khó tiếp thu bài học do nội dung Sinh học 11 phức tạp, nhiều thuật ngữ, bài giảng thiếu sự gắn kết thực tế. Phương pháp đóng vai giúp khắc phục các hạn chế này bằng cách tạo môi trường học tập sôi động, khuyến khích giao tiếp và chủ động tham gia, đồng thời tăng cường hứng thú và hiệu quả giảng dạy. Phương pháp này giúp học sinh học lực trung bình hứng thú hơn, dễ tiếp cận bài học thông qua trải nghiệm thực tế, đồng thời rèn kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. II. Biện pháp Năm học 2023-2024, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy môn Sinh học lớp 11A4 và 11A5. Theo tinh thần chỉ đạo của Sở GD & ĐT Bắc Giang và Ban Giám hiệu trường THPT Giáp Hải là giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học để hiện thực hóa mục tiêu của chương trình GDPT 2018 thì bản thân tôi với cương vị là một giáo viên cũng luôn trăn trở và tìm tòi, áp dụng các biện pháp dạy học tich cực giúp học sinh hứng thú trong học tập, phát triển kỹ năng mềm đồng thời nâng cao chất lượng dạy học. Vì vậy đến với Hội thi Giáo viên dạy giỏi (GVDG) cấp trường năm học 2024-2025, tôi mạnh dạn chia sẻ giải pháp "Sử dụng phương pháp dạy học đóng vai để phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học môn Sinh học 11""- Bộ sách KNTT NXB Giáo dục. * Mục đích của giải pháp này giúp học sinh: - Hiểu sâu bài học nhờ trải nghiệm thực tế và tình huống nhập vai. - Rèn kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, và tư duy sáng tạo. - Tăng hứng thú học tập, khắc phục thụ động, đặc biệt hiệu quả với học sinh có học lực trung bình. Qua đó, giải pháp không chỉ nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn hình thành các kỹ năng cần thiết cho học sinh trong cuộc sống và nghề nghiệp tương lai.
- * Cơ sở khoa học của giải pháp “Kĩ thuật đóng vai” - Khái niệm: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. - Bản chất: Đây là phương pháp nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này, mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy. - Quy trình vận dụng phương pháp đóng vai Bước 1: Xác định chủ đề (đây là bước rất quan trọng). + Chủ đề phải nằm trong nội dung chương trình học, nếu nội dung chưa được học thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh tự học qua tài liệu có sẵn, hướng dẫn học sinh cách khai thác kiến thức bằng cách học xác định mục tiêu bài học và các câu hỏi trong sách giáo khoa, sách bài tập. Với nội dung chưa được học phải có thời gian nghiên cứu cụ thể. + Chủ đề phải có thể thực hiện được bằng phương pháp đóng vai. + Chủ đề phát huy được ưu thế của phương pháp đóng vai là những chủ đề thể hiện được kỹ năng giao tiếp, thái độ, cách ứng xử giải quyết vấn đề. Bước 2: Giao nhiệm vụ + Giáo viên chia nhóm, gợi ý một số nội dung chủ đề cần đóng vai phù hợp. Trong đó quy định rõ ràng thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai cho các nhóm. Tùy vào đặc điểm bài học, học sinh có thể xây dựng kịch bản ngay tại lớp hoặc chuẩn bị kịch bản ở nhà. + Giáo viên có thể chia nhóm dựa trên năng lực của học sinh, đảm bảo các nhóm phải đồng đều năng lực. + Các nhóm thảo luận, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm: cử một bạn làm nhóm trưởng, một bạn làm thư kí, giao nhiệm vụ phân vai, dàn cảnh, lời thoại .. + Xây dựng tình huống và vai đóng: tình huống phải rất cụ thể; vai đóng càng cụ thể bao nhiêu càng tốt. Các dữ liệu không phải tùy tiện đặt ra mà cần suy nghĩ, cân nhắc để thể hiện tốt mục tiêu học tập; nêu lên được nhiều vấn đề, khía cạnh để học tập. Bước 3: Học sinh trình bày sản phẩm + Các nhóm trình bày sản phẩm + Đảm bảo về nội dung kịch bản + Đảm bảo về thời gian Bước 4. Thảo luận, chốt kiến thức (đây là bước quan trọng nhất) + Giáo viên định hướng học sinh thảo luận về những nội dung trọng tâm của bài học bám tài liệu là sách giáo khoa. + Học sinh thảo luận, nhận xét, đánh giá. Giáo viên khuyến khích học sinh đặt câu hỏi và trả lời cho mỗi nội dung. + Thực hiện thảo luận ngay sau khi đóng vai để người học còn lưu giữ được các nhận xét, quan sát qua thực tế buổi đóng vai. + Chốt kiến thức là rất quan trọng, đó là nội dung cơ bản. Khi chốt kiến thức, ngoài việc chốt kiến thức trọng tâm của bài học giáo viên cần nhận xét về: Về kỹ năng giao tiếp của học sinh: • Có trình bày, giải thích rõ ràng, dễ hiểu không? • Các ngôn từ sử dụng có phù hợp cho vai “chính”, “phụ”... không? • Trong sử dụng ngôn từ cần lưu ý tránh việc trình bày như sách vở; dùng các ngôn từ khoa học khó hiểu, khó tiếp thu... Về thái độ, phong cách: • Việc chào hỏi, cách xưng hô trong giao tiếp như thế nào?
- • Có thực sự tôn trọng, chú ý lắng nghe, giải đáp đúng yêu cầu của các vai đóng? - Những điều có thể học tập rút kinh nghiệm qua đóng vai: Cần bố trí, động viên để mọi người đều có thể phát biểu thoải mái. Khi có những nhận xét chưa đúng, chưa rõ, nên tiến hành trao đổi để có thể đi đến kết luận. Nếu nảy sinh những vấn đề cơ bản chưa thống nhất có thể để lại, tổ chức một buổi thảo luận nhóm riêng. - Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau : + Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. + Gây hứng thú và chú ý cho học sinh + Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh + Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị – xã hội + Thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. + Qua đóng vai cũng rèn luyện cho người học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã được làm quen với vai của người cán bộ sẽ đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp, luyện tập năng lực giải quyết vấn đề theo cương vị mà người học sẽ đảm nhiệm sau này. + Giúp cho giờ giảng của giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa. Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của giáo viên sẽ tăng lên nhờ áp lực của phương pháp, mối quan hệ giữa thầy – trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp hơn. - Hạn chế của phương pháp đóng vai trong dạy học + Nếu giáo viên không tổ chức và kiểm soát tốt, học sinh dễ xem phương pháp này như một trò chơi. + Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo, tốn thời gian và công sức của giáo viên hơn việc sử dụng các phương pháp khác. + Việc sử dụng phương pháp học sinh cần dành nhiều thời gian và đầu tư trang phục để có thể cho ra những sản phẩm chất lượng. + Một số học sinh còn hạn chế về năng khiếu diễn xuất, chưa thực sự tự tin khi đứng trước đám đông. - Những điều cần lưu ý khi sử dụng: + Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại. + Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai. + Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề . + Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia. + Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai. 1. Biện pháp 1: Sử dụng phương pháp đóng vai cho hoạt động hình thành kiến thức mới - Phân tích một số nội dung thuộc chương trình Sinh học lớp 11 trong việc vận dụng kỹ thuật đóng vai, trong bồi dưỡng và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT. - Xây dựng các nội dung, kỹ thuật đóng vai trong dạy học một số bài trong chương trình Sinh học lớp 11 để rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT.
- - Thông qua học sinh xây dựng kịch bản còn rèn luyện cho học sinh năng lực ngôn ngữ. Việc thực hiện đóng vai, phân công nhiệm vụ trong nhóm giúp phát huy rất tốt năng lực giao tiếp cho học sinh. Một số kịch bản được thu hoạch khi sử dụng phương pháp đóng vai Bài 2: “Trao đổi nước và khoáng ở Thực vật” Mục II. 2: Vận chuyển nước và các chất trong thân” Sinh học 11 Thời điểm khai thác: trong quá trình khai thác bài học Mục đích của kịch bản: trong quá trinh xây dựng kịch bản và đóng vai học sinh nắm được - Có hai loại dòng vận chuyển trong cây: dòng mạch gỗ, dòng mạch rây. - So sánh được dòng mạch gỗ và dòng mạch rây về các tiêu chí: cấu tạo, động lực của dòng mạch, thành phần dịch mạch. Thời gian của kịch bản: 7 phút Cách tiến hành - Giáo viên: giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản dựa vào mục đích xây dựng kịch bản (nhiệm vụ này đã giao trước 1 tuần), tổ chức hội thi cho 2 đội, mỗi đội có ít nhất 4 thành viên trong đó có 1 người là nhóm trưởng chỉ huy cả nhóm. Yêu cầu : Nhóm 1: đóng vai dòng mạch gỗ, trưởng nhóm chỉ huy hoạt động của cả nhóm, mô tả về cấu tạo của dòng mạch gỗ, giới thiệu về các thành viên trong nhóm (thành phần của dịch mạch gỗ), và giới thiệu đường đi của dòng mạch gỗ. Nhóm 2: đóng vai đóng mạch rây, trưởng nhóm chỉ huy hoạt động của cả nhóm, mô tả về cấu tạo của dòng mạch rây, giới thiệu về các thành viên trong nhóm (thành phần của dịch mạch rây), và giới thiệu đường đi của dòng mạch rây. Học sinh: diễn trực tiếp tại lớp hoặc quay video làm tư liệu Kết quả kịch bản được xây dựng Vào một ngày đẹp trời, cuộc chiến giữa các dòng vận chuyển xảy ra. Nhóm 1: Xin chào các bạn chúng tôi là dòng mạch gỗ. Gỗ: Chúng tôi với biệt danh “died” là chết, chết và chết, nói đúng ra là được cấu tạo từ các tế bào chết nhưng chúng tôi vẫn đoàn kết. Các tế bào cùng loại sẽ nối nhau thành một đường ống dài từ rễ lên lá để các thành viên của chúng tôi được vận chuyển thuận lợi từ dưới rễ lên trên lá, ngoài ra trên thành ống còn có các lỗ bên giúp chúng tôi có dòng vận chuyển ngang. Chúng tôi rất bền chắc vì trên thành chúng tôi được linhin hóa. Vì vậy chúng tôi quan trọng nhất. Nhóm 2. Nào anh em ơi chúng ta cùng lên đây. Hello tất cả mọi người, chúng tôi là dòng mạch rây. Tôi nghĩ chúng tôi mới là thành phần quan trọng nhất, bởi vì chúng tôi được cấu tạo từ tế bào sống là ống rây và tế bào kèm. Như các bạn đã biết cây xanh sống không thể thiếu nước và các chất dinh dưỡng, vậy các chất dinh dưỡng do cây tạo ra được vận chuyển nhờ dòng mạch nào, đó là nhiệm vụ của dòng mạch rây chúng tôi còn gọi là dòng vận chuyển đi xuống. Đấy các bạn xem chúng tôi mới là thành phần quan trọng nhất chứ lị. Rây: Anh mạch gỗ, thành phần của anh có những gì nào mà so được với chúng tôi. Gỗ: Xin giới thiệu với các bạn thành phần dịch mạch gỗ của chúng tôi gồm: tôi là nước đội trưởng, và đây các ion khoáng (đây là hai thành viên chủ yếu nhất của đội chúng tôi), còn đây là bạn axit amin và bạn vitamin ngoài ra còn có một số bạn khác nữa. Rây: Các bạn mạch gỗ chỉ có như vậy thôi á!!! Hãy nhìn thành phần của chúng
- tôi đây. (Nào nào hãy xếp hàng không được chen lẫn, bạn nào cũng được giới thiệu): tôi là saccarozo đội trưởng, và đây bạn vitamin, bạn axit amin, còn đây bạn mittơ hooc môn ngoài ra còn có một số bạn khác nữa. Gỗ: Vậy bạn mạch rây có những động lực gì để vận chuyển chúng nó? Rây: Quá trình vận chuyển của chúng tôi nhờ sự chênh lệch áp suất thẩm thấu giữa cơ quan nguồn và cơ quan chứa. Vậy anh mạch gỗ thì có động lực gì nào? Gỗ: Chúng tôi có nhiều lắm. Quá trình vận chuyển của chúng tôi không thể kể thiếu đến công lao của bạn lá thoát hơi nước, bạn rễ tạo ra lực đẩy và sự liên kết giữa các phân tử nước với nhau và với thành mạch gỗ. Cuộc ẩu đả giữa hai dòng mạch xảy ra. Lời bình: nếu cuộc chiến giữa hai dòng mạch xảy ra thì cả 2 mạch đều bị tổn thương hoặc một trong hai mạch bị tổn thương vậy thì đều ảnh hưởng đến sự sống của cây. Ví dụ như: nhóm cây 1: bị tổn thương mạch rây: cây chậm chậm phát triển, thân cây bị phình ra, sù sì. Nhóm cây 2: Bị tổn thương mạch gỗ: cây sinh trưởng còi cọc Nhóm cây 3: Mạch gỗ và mạch rây phát triển bình thường, cây sinh trưởng tốt. Lời kết: Tôi là mạch gỗ, tôi là mạch rây chúng ta cùng nhau giúp cây phát triển. Kết thúc phần trình bày của 2 đội thi, giáo viên cho học sinh ở dưới lớp sau khi lắng nghe và nghiên cứu sách giáo khoa để đặt câu hỏi cho hai đội. Thảo luận đặt câu hỏi Gợi ý câu hỏi Câu 1. (Nhận biết). Cấu tạo của dòng mạch gỗ phù hợp với chức năng hút nước và ion khoáng? Câu 2. (Thông hiểu). Phân biệt dòng mạch gỗ và dòng mạch rây về các tiêu chí: cấu tạo, thành phần dịch mạch, động lực của dòng mạch? Câu 3. (Thông hiểu). Nếu một ống mạch gỗ bị tắc thì nước và ion khoáng có vận chuyển đi lên được không? Vì sao? Câu 4: (Vận dụng). Sự vận chuyển liên tục của mạch gỗ phụ thuộc vào những yếu tố nào? Yếu tố nào làm ngưng trệ sự liên tục đó? Câu 5. (Vận dụng). Chứng minh cấu tạo của mạch gỗ phù hợp với chức năng vận chuyển nước và ion khoáng? Câu 6. (Vận dụng cao). Tại sao các tế bào mạch gỗ lại được cấu tạo từ các tế bào chết còn tế bào mạch rây lại được cấu tạo từ các tế bào sống ? Bài 2: “Trao đổi nước và khoáng ở Thực vật” . Mục III. “Dinh dưỡng nitrogen” – Sinh học 11 - Thời điểm khai thác: sử dụng trong quá trình khai thác bài học - Mục đích của kịch bản: + Biết vai trò của nito đối với cây trồng + Biểu hiện của cây khi thiếu một số nguyên tố khoáng + Cách sử dụng phân bón hợp lí - Thời gian của kịch bản: 7 phút - Cách tiến hành: Giáo viên: Giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản (kịch bản được xây dựng trước khi vào bài học khoảng 1 tuần). Yêu cầu: Lớp chia thành 3 nhóm Nhóm 1: Đóng vai người nông dân đi mua phân bón Nhóm 2: Đóng vai người bán phân bón Nhóm 3 : Đóng vai người kĩ sư nông nghiệp
- Tình huống của các nhóm Nhóm 1: Trong vai người nông dân đi mua phân bón, vì ruộng lúa nhà mình bị vàng lá, thân gầy và còi. Nhóm 2: Trong vai người bán phân bón giới thiệu các loại phân, giải thích cho bác nông dân hiểu nguyên nhân gây bệnh và tác dụng của mỗi loại phân bón Nhóm 3 : Trong vai là kĩ sư nông nghiệp hướng dẫn bà con nông dân cách sử dụng phân bón hợp lí và hướng dẫn phương pháp bón phân có hiệu quả. Nội dung kịch bản Phân cảnh 1 Người nông dân: Sao mà nhiều cửa hàng bán phân thế nhỉ, mình biết chọn cửa hàng nào đây, thôi mình cứ vào thử cửa hàng này xem sao. Người bán : Chào bác, bác mua phân ạ ? Người nông dân: Chào chị. Ruộng lúa nhà tôi, cây lúa thân rất gầy và còi, một số lá chuyển màu xanh tái còn một số lá thì có màu vàng. Tôi cũng không biết tại sao đây. Mặc dù ruộng có rất nhiều nước và trước khi trồng tôi đã bón lót phân chuồng, không biết ruộng lúa nhà tôi mắc bệnh gì? Người bán phân: Thân cây gầy và còi, lá mất màu xanh thì có lẽ cây lúa đang bị thiếu nito. Bác hãy lấy thử phân nito nhà tôi về bón thử xem tình hình thế nào Người nông dân: Cảm ơn chị. Thế tại sao bón nito lại lại giúp khắc phục được tình trạng này. Người bán phân: Nito là nguyên tố dinh dưỡng khoáng thiếu yếu. Nito có vai trò cấu tạo nên các phân tử protein, enzim, coenzim, axit nucleic, diệp lục. Nito tham gia vào điều tiết các hoạt động sống của cây. Dấu hiệu của cây khi thiếu nito cây sinh trưởng kém, lá mất màu xanh. Người nông dân: bán cho tôi một bì về dùng thử nào. Người bán phân: dạ đây thưa bác. Hai tuần sau Người nông dân: (hùng hục đến cửa hàng bán phân bón lúc trước). Này chị bán phân kia, chị làm ăn kiểu gì thế này. Tôi sẽ dẫn chị lên phường, chị đã làm cho ruộng lúa nhà tôi chết hết rồi. Người bán phân: Bác cứ bình tĩnh, chuyện đâu rồi có đó. Bây giờ bác muốn tôi chịu trách nhiệm cũng được, nhưng bác cho tôi hỏi. bác sử dụng phân bón ấy như thế nào? Người nông dân: Thì tôi cứ đưa về và rải vào ruộng thôi, rải như rải phân chuồng ấy. Người bán phân: Thế bác có đọc hướng dẫn bón phân trên bao bì không? Người nông dân: Đọc cái “con khỉ” biết đọc đâu mà đọc, tôi mua phân về thì bón tất, để thừa làm gì, bón nhiều tốt nhiều. Người bán phân: Thôi cây chết là phải. Hôm nay có đoàn kĩ sư nông nghiệp về xã bên hướng dẫn bà con nông dân sử dụng phân bón. Tôi cùng với bác về lắng nghe xem thử tôi nói có đúng không. Người nông dân: đi thì đi, chị mà nói sai chết với tui. Phân cảnh 2. Loa loa qua loa thông báo với bà con, hôm nay có đoàn kĩ sư nông nghiệp về tại địa bàn xã ta để hướng dẫn bà con nông dân cách sử dụng phân bón hợp lí giúp đưa lại hiệu quả năng suất cao. Kĩ sư nông nghiệp: kính chào bà con nông dân, tôi là Nguyễn Văn Sự là cán bộ kĩ sư nông nghiệp của huyện được cử về đây giúp bà con nông dân hiểu biết thêm về vai trò của phân bón và cách sử dụng phân bón có hiệu quả. Anh kĩ sư quan sát bà con nông dân đang bón phân cho cây ngô Kĩ sư nông nghiệp: Chào các bác!
- Bà con nông dân: Chào chị ! Kĩ sư nông nghiệp: Các bác đang làm gì vậy ạ Bà con nông dân: Chúng tôi đang bón phân cho cây. Kĩ sư nông nghiệp: Sao các bác lại bón nhiều phân quá vậy? Bà con nông dân: Mọi người trong làng này đều bón vậy, chúng tôi cũng bón theo thôi. Bón càng nhiều thì cây càng tốt chứ sao!! Kĩ sư nông nghiệp: Các bác nghĩ như vậy là sai rồi. Bón phân quá nhiều không những gây làng phí, gây ô nhiễm môi trường, mà còn làm chết cây. Để cây trồng có năng suất cao cần phải bón phân hợp lí: đúng loại, đủ số lượng và tỉ lệ thành phần dinh dưỡng, đúng nhu cầu của từng loại cây và thời kì sinh trưởng, đất đai, mùa vụ. Bà con nông dân: À! Thì ra là như vậy, trách chi ruộng ngô nhà tôi cứ chết dần chết mòn. Cảm ơn chị kĩ sư nông nghiệp nhé. Kĩ sư nông nghiệp: Dạ, không có gì. Khi chăm sóc cây trồng các bác cần theo dõi các biểu hiện của cây để phát hiện kịp thời các dẫu hiệu khi cây thiếu chất dinh dưỡng khoáng nào, để cung cấp kịp thời ạ. Ngoài ra các bác cũng nên xới đất vun gốc cho cây để hạn chế sự mất mát nito trong đất và đảm bảo sự thoáng khí để cây hút nước và ion khoáng được tốt nhất. Thảo luận đặt câu hỏi Gợi ý câu hỏi Câu 1. (Nhận biết): Dấu hiệu của cây khi thiếu nito Câu 2. (Nhận biết): Vai trò của nito đối với cây trồng? Câu 3. (Thông hiểu): Bón quá nhiều phân đạm có tốt cho cây trồng hay không? Câu 4. (Thông hiểu): Tại sao phải bón phân hợp lí? Câu 5. (Vận dụng):Tại sao khi trồng các cây họ đậu người ta không bón hoặc bón rất ít phân đạm? Câu 6. (Vận dụng): Có ý kiến cho rằng: “Khi làm tăng độ thoáng của đất có thể dẫn đến làm giảm lượng nitơ trong đất”. Hãy cho biết quan điểm của em? Câu 7. (Vận dụng cao): Mối quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và quá trình hấp thụ khoáng? Câu 8. (Vận dụng cao): Khi quan sát các ruộng cây bị thiếu các nguyên tố khoáng người ta nhận thấy có 2 nguyên tố mà khi cây thiếu 1 trong 2 nguyên tố đều có biểu hiện: lá vàng, vàng lá bắt đầu từ đỉnh lá, sau đó héo và rụng, ra hoa giảm. Đó là 2 nguyên tố nào? Nêu cách kiểm tra sự thiếu hụt nguyên tố đó? Bài 10: “Tuần hoàn ở Động vật” – Sinh học 11 Thời điểm khai thác: sử dụng trong khi trong khi thác bài học Mục đích của kịch bản: - Nắm được chiều hướng tiến hóa của hệ tuần hoàn - Mô tả được cấu tạo, chức năng của hệ tuần hoàn, các dạng hệ tuần hoàn. - Phân biệt được hệ tuần hoàn hở với hệ tuần hoàn kín. - Phân tích được ưu điểm của hệ tuần hoàn kín so với hệ tuần hoàn hở, hệ tuần hoàn kép với hệ tuần hoàn đơn. Thời gian của kịch bản: 6 phút Tình huống của các nhóm Cá chép và tôm có mâu thuẫn nhỏ nên 2 bạn ấy thường xuyên cãi vã, gây gổ với nhau. Một ngày đẹp trời, hai bạn ấy tình cờ gặp nhau. Cá chép: Hế lô!!! Bạn tôm nhỏ bé, cái hệ tuần hoàn hở rách nát của bạn vẫn hoạt động tốt chứ? Tôm: Bạn có ý gì vậy hả? Hệ tuần hoàn hở thì sao? Nó vẫn giúp tôi sống tốt nhá. Cá chép: Vậy hả? Bạn vẫn sống tốt hả? Ồ, nhưng mà với bạn có lẽ chưa bao giờ
- được nếm thử mùi vị “máu nguyên chất nhỉ”? Bởi vì máu nuôi cơ thể bạn chỉ toàn là máu pha vì bị trộn lẫn với dịch mô hừm ...tội nghiệp bạn quá. Tôm (rất bực): hứ tuy là như vậy nhưng máu của tôi được tiếp xúc trực tiếp với cơ thể còn của bạn thì không nhá. Cá chép (cười lớn): hahaha như thế mà bạn cũng khoe được. Bạn không có gì để nói nữa đúng không. Dù sao thì tiến hóa cũng không thể bằng người ta nên chịu thua đi. Tôm (chống chế): Thế bạn có gì mà đòi hơn tôi nào. Cá chép: Tôi á tôi có rất nhiều thứ đấy nha!!! Hệ tuần hoàn của tôi có đầy đủ những thứ mà ai cũng có như: dịch tuần hoàn ( máu, dịch mô), tim, hệ thống mạch máu, không giống như bạn không có mao mạch, tôi có đầy đủ động mạch, mao mạch, tĩnh mạch vậy nên máu của tôi không cần phải tiếp xúc trực tiếp với cơ thể mà có thể thông qua mao mạch để trao đổi chất với tế bào tiện lợi biết bao. Tôm (không phục): Như vậy thì sao chứ ? Cá chép: Như vậy máu của tôi sẽ chảy trong động mạch với áp lực trung bình, tốc độ chảy sẽ rất nhanh luôn, máu đi được xa, đến các cơ quan trong cơ thể kịp thời đáp ứng tốt các nhu cầu trao đổi khí và trao đổi chất của cơ thể. Tôm (buồn bã): hệ tuần hoàn của tôi không được bằng bạn, máu chảy trong động mạch với áp lực thấp thôi, tốc độ máu chảy cũng chậm nữa, nhưng mà!!! nhưng mà... dù sao tôi thấy nó cũng rất tốt, tôi cũng nhỏ hơn bạn nữa Vậy nên máu chảy chậm cũng được. Hứ bạn cứ chờ đó tôi sẽ tìm được một nguời khác có hệ tuần hoàn tốt hơn bạn. Cá chép (cười nhạt): haha tôi sẽ chờ xem bạn sẽ tìm được cái gì Kể từ hôm ấy, tôm ôm mối hận trong mình, nó đi tìm hết cả vùng sông nhỏ nhà nó mà vẫn không thể tìm được một người nào có hệ tuần hoàn tốt hơn cá chép, tôm bực lắm, cho đến một ngày khi nó bị người ta bắt đi chuẩn bị cho vào nồi, nó gặp được thằn lằn nhỏ bé. Thằn lằn: Bạn tôm, sao bạn buồn vậy có phải là do bạn sắp bị ăn thịt không ? Tôm (lắc đầu) : Không mình không có buồn vì chuyện đó, mình chỉ buồn rằng cho đến khi sắp chết rồi mình vẫn không thể thắng được cá chép. Thằn lằn: Tại sao bạn lại không thắng được? Tôm: Mình đã từng nói sẽ tìm được người có hệ tuần hoàn tốt hơn bạn ấy nhưng không, mình đã sai rồi Thằn lằn: Đừng khóc bạn cá chép có hệ tuần hoàn kín đúng không Tôm: Đúng vậy!!! Thằn lằn: Ồ! Vậy thì đừng buồn nữa, mình đã tìm được cho bạn một người rồi. Tôm: Bạn đừng lừa mình chứ, mình không tin đâu. Thằn lằn: Đừng như vậy, người đó là mình đây. Tôm: Không phải bạn cũng chỉ có hệ tuần hoàn kín thôi sao? Thằn lằn: Đúng vậy mình có hệ tuần hoàn kín nhưng hệ tuần hoàn của cá chép là hệ tuần hoàn đơn còn của mình là hệ tuần hoàn kép. Tôm: Vậy hai cái đó khác nhau chỗ nào? Hệ tuần hoàn của bạn có thật là tốt hơn không ? Thằn lằn: Đương nhiên là tốt hơn rồi, để mình nói cho bạn nghe, đầu tiên hệ tuần hoàn đơn của cá chép chỉ có 1 vòng tuần hoàn còn của mình có đến tận 2 vòng là vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ Tôm: Có 2 vòng tuần hoàn thì sao? Thằn lằn: Bạn cá chép máu chảy với áp lực trung bình còn tôi máu chảy với áp lực cao, tốc độ nhanh và đi xa hơn đảm bảo cho các cơ quan hoạt động được tốt. Tôm: Mình thấy bạn cá chép cũng nói như bạn. Thằn lằn (cười khẽ): bạn cá chép nói vậy cũng đúng nhưng so ra bạn ấy sẽ không
- được như mình đâu máu của bạn ấy chỉ đuợc qua tim có 1 lần nên có màu đỏ thẫm còn máu của tụi mình sẽ được oxy-hóa khi trở lại tim lần thứ hai nên nó rất là giàu oxi, rất là tốt luôn. Tôm: Thật á? Thằn lằn: Đúng vậy, nhưng mà tim của mình chưa được hoàn thiện lắm nên vẫn có máu pha nếu mà được như mấy chị chim bồ câu thì còn tốt hơn nữa. Tôm: Không đâu bạn như vậy là tốt lắm rồi, cảm ơn bạn đã nói chuyện với tôi, cho tôi biết rằng cá chép vẫn không phải là tốt nhất, tôi rất vui. Cảm ơn thằn lằn rất nhiều. Thảo luận, đặt câu hỏi Gợi ý cây hỏi Câu 1. (Nhận biết). Hệ tuần hoàn kép có ở động vật nào? A. Chỉ có ở cá, lưỡng cư và bò sát. B. Chỉ có ở lưỡng cư, bò sát, chim và thú. C. Chỉ có ở mục ống, bạch tuột, giun đốt và chân đầu. D. Chỉ có ở mục ống, bạch tuột, giun đốt và chân đầu và cá. Câu 2. (Thông hiểu). Nêu chiều hướng tiến hóa của hệ tuần hoàn? Câu 3. (Thông hiểu). Nêu ưu điểm của hệ tuần hoàn kín so với hệ tuần hoàn hở? Câu 4. (Vận dụng). Phân biệt hệ tuần hoàn hở và hệ tuần hoàn kín, hệ tuần hoàn đơn và hệ tuần hoàn kép? Câu 5. (Vận dụng): Giải thích tại sao hệ tuần hoàn hở thích hợp cho ĐV có kích thước cơ thể nhỏ và hoạt động chậm? Câu 6: (Vận dụng cao). Cùng là động vật có xương sống nhưng vì sao ở cá tồn tại hệ tuần đơn trong khi chim, thú tồn tại hệ tuần hoàn kép? Bài 8: Dinh duõng và tiêu hóa ở Động Vật - Sinh học 11 Thời điểm khai thác: sử dụng trong quá trình khai thác kiến thức Mục đích của kịch bản: - Xác định kiến thức trọng tâm trong bài dinh dưỡng và tiêu hóa ở động vật - Nội dung chọn đóng kịch bao hàm kiến thức về dinh dưỡng và tiêu hóa ở động vật - Thời gian của kịch bản: 6 phút Cách tiến hành: Giáo viên: - Gợi ý và giao nhiệm vụ cho từng nhóm: viết kịch bản, diễn kịch trước 1 tuần - Duyệt nội dung kịch bản Học sinh: - Nghiên cứu trước nội dung bài học để lựa chọn nội dung viết kịch bản - Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong tổ xây dựng kịch bản, tập duyệt kịch Kết quả kịch bản được xây dựng Vào một buổi tối nọ, khi cả khu dân cư Tiêu hóa đang nghỉ ngơi. Miệng: “Thật không hiểu nổi cậu chủ, suốt ngày chỉ có ăn, ăn và ăn, không thấy mệt à ??? Tôi đây rất là mệt đấy. Suốt ngày phải chuyển động lên xuống, vận động lưỡi cả ngày. Còn làm khổ các con tôi nữa chứ !!!!” Răng: “Đúng vậy mẹ, suốt ngày phải làm việc cực nhọc, cắt nhỏ, làm nhuyễn thức ăn. Thức ăn giòn hoặc mềm thì còn được, chứ thức ăn mà cứng hay dai thì ai mà chịu nổi. Đặc biệt, cậu chủ rất hay ăn kẹo, lại không chịu đánh răng, làm hỏng hết mấy anh em mất rồi. Thật bực mình !!!!!!!”. Miệng: “Tội nghiệp các con tôi !!!!”. Thực quản: “Mấy mẹ con nhà bà bớt ồn ào lại đi nhá, suốt ngày kêu ca, ai mà
- chẳng làm việc như nhau, cứ như bà có thể quản thúc hết cả khu này ấy.”. Miệng: “Ông im đi nha !! Cả ngày chỉ làm chắc một công việc là đưa thức ăn xuống thôi mà lên mặt cái gì hả ?!!!”. Bác Dạ dày đang nghỉ ngơi bị đánh thức bởi cuộc tranh cãi. Dạ dày: “Hai ông bà cứ cãi nhau làm gì, hai người là hai công việc tuy khác nhau nhưng có liên quan mà, có thế thì tôi đây mới có công việc mà làm chứ. Hiện tại ai cũng được nghỉ ngơi thì tận hưởng đi. Cứ phải lôi việc ra mà cãi nhau.” Miệng: “Nhưng mà bác Dạ dày ạ, bác cũng phải hiểu chứ. Đến bản thân bác mỗi ngày cũng phải làm việc vất vả cơ mà. Phải tiết dịch vị rồi co bóp, nhào trộn thức ăn để anh Ruột có thể hấp thụ. Thế mà bác lại bỏ qua dễ dàng cho tên Thực quản này.” Dạ dày: “Thì cô cũng đâu thể đuổi cậu ta đi khỏi khu này, đúng không ?” Miệng: “ .” Thở dài Dạ dày: “Vậy thì hà tất gì cứ phải cãi nhau. Thôi thì nghỉ ngơi đi đã. Ai cũng mệt rồi.” Anh em nhà Ruột nghe náo nhiệt cũng có chút tò mò. Ruột non: “Trên đó có vẻ vui vẻ nhỉ, cho tôi tham gia với.” Dạ dày: “Tham gia để cãi nhau à ?? Đến cả buổi nghỉ ngơi cũng không yên.” Thực quản nãy giờ chưa xả được cơn bực mình nói xen vào: “Kệ bác ấy đi, anh Ruột non à, anh phân xử giùm cái, tôi với chị Miệng vốn có liên quan đến nhau mà chị ấy lại luôn bắt bẻ tôi”. Ruột non: “Hahaha, thì ra chuyện này. Nhìn tôi đây, riêng chiều dài đã quá khổ lại còn cả ngày phải hấp thụ các chất dinh dưỡng, rồi vận chuyển qua máu nữa chứ. Nghe có vẻ đơn giản nhưng lại là quá trình quan trọng cho cơ thể nên cậu chủ mới có thể béo khỏe như bây giờ. Vậy ai quan trọng hơn.” Thực quản: “Nhưng mà những chất cặn bã anh sẽ thải ra cho Ruột già để anh ấy hấp thụ lại nước. Vậy thì cũng xem là rảnh.” Ruột già: “Chúng tôi là anh em, có liên quan mật thiết. Tôi thấy chú cũng rảnh quá đấy, cứ tranh cãi mấy việc cỏn con.” Nãy giờ Hậu môn vẫn chưa lên tiếng, chỉ im lặng lắng nghe cuộc tranh cãi. Hậu môn: “Vậy mấy anh xuống đây, thay tôi làm việc này. Suốt ngày phải tiếp nhận những chất thải ra của anh Ruột già, mùi nồng nặc không thể chịu nổi. Xuống thử bữa xem sao. Mỗi người đều có một vai trò riêng, một sự quan trọng nhất định, không nhất thiết phải đề cao bản thân thì người ta mới thấy được. Thử hỏi nếu chị Miệng và các con không hoạt động, anh Thực quản không vận chuyển thì bác Dạ dày sao có việc làm, rồi anh em nhà Ruột có thể hấp thụ không, nếu không có chất dinh dưỡng thì cậu chủ sống sao?? Mỗi ngưòi đều đề cao bản thân mà quên mất sự quan trọng của người khác. Trên hết, mọi người đều quên rằng chúng ta là khu dân cư Tiêu hóa cơ mà. Chúng ta đều thuộc vòng tiêu hóa một chiều, chúng ta liên quan mật thiết và đều quan trọng nên đừng cãi nhau nữa mà hãy biết tôn trọng, yêu thương lẫn nhau. Như vậy mới tốt chứ, phải không???” Tất cả đều hiểu ra, cùng cười vui. Chị Miệng: Hóm hỉnh xen vào: “Haha, vậy chẳng phải mọi người đều phải trông cậy vào việc cháu ăn sao.” Hậu môn: “Vậy tôi hỏi chị, nếu tôi không thải thì chị có ăn được không?? Hahaha ” Cả khu cùng cười to. Vậy là buổi tranh cãi kết thúc trong vui vẻ. Sau đó chẳng ai kêu ca gì nữa mà chăm chỉ làm tốt công việc của mình. Khu xóm Tiêu hóa kể từ đó luôn vui vẻ và náo nhiệt tiếng cười. Thảo luận, đặt câu hỏi Gợi ý câu hỏi
- Câu 1.(Nhận biết). Động vật ăn thực vật, ăn thịt và con người thuộc hình thức tiêu hóa nào? Câu 2. (Nhận biết). Nêu các bộ phận trong hệ tiêu hóa của người? Câu 3. (Thông hiểu). Nêu ưu điểm của tiêu hóa trong ống với tiêu hóa trong túi? Câu 4. (Vận dụng). Quá trình tiêu hóa quan trọng nhất xảy ra ở cơ quan nào của hệ tiêu hóa? Giải thích? Câu 5. (Vận dụng): Ý nghĩa của thức ăn xuống ruột từng đợt với lượng nhỏ? Cơ chế của hiện tượng đó? Câu 6. (Vận dụng): Tại sao người ta thưng nói “Nhai kĩ no lâu”? Câu 7. (Vận dụng cao): Các câu sau đúng hay sai. Nếu sai hãy chỉnh lại cho đúng. A. Trong các mặt biến đổi thức ăn thì biến đổi thức ăn về mặt cơ học là quan trọng nhất. B. Lông nhung đẩy thức ăn đi trong ruột non. C. Ở người, quá trình tiêu hoá xảy ra chủ yếu ở dạ dày. D. Trong miệng có enzym tiêu hoá cả tinh bột sống và chín. E. Một số người có thể cắt túi mật mà vẫn hoạt động được bình thường vì trong dịch mật không có chứa enzym tiêu hoá. Câu 8. (Vận dụng cao). Hãy dự đoán ở động vật ăn thịt sống, giả sử ta bỏ một miếng thịt nạc còn nguyên vẹn vào ruột non thì nó sẽ biến đổi như thế nào? 2. Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp đóng vai cho hoạt động khởi động Thời điểm khai thác: Hoạt động khởi động cho bài học Mục đích của kịch bản: Tăng tính tò mò, hấp dẫn học sinh bước vào bài học Thời gian của kịch bản: Tối đa 5 phút Cách tiến hành: Giáo viên : giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản Học sinh: xây dựng một đoạn kịch nhằm giới thiệu về bài học có thể bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tăng tính tò mò hứng thú khi bước vào bài học. Kết quả một số ví dụ kịch bản được xây dựng Bài 10: “Tuần hoàn ở động vật” Mục III: Cấu tạo và hoạt động của tim Sinh học 11 Ở trong một xóm nhỏ, gia đình ông Tèo có hai đứa con gái chẳng may người con thứ hai lại bị bệnh tim bẩm sinh. Mặc dù đã lên 6 tuổi nhưng bé H chậm hơn với các bạn cùng lứa về mọi mặt. Rồi một hôm ông Tèo nghe tin bệnh viện tỉnh có thể chữa khỏi bệnh cho con gái mình, ông liền đem hết tiền tiết kiệm bao lâu nay để điều trị cho con. Nhưng vợ ông không đồng ý. Vợ: Tôi bảo không được là không được. Ông Tèo: Tại sao lại không được? Vợ: Ông thử nghĩ mà xem. Muốn trị bệnh cho con gái thì phải mổ tim và lấy tim ra ngoài. Ông xem lấy tim ra rồi thì sống sót gì nữa. Huống gì bệnh viện đó đã điều trị cho ai thành công hay chưa? Con do tôi sinh ra tôi không thể làm liều như vậy được. Nghe bà nhà nói vậy ông Tèo cũng thấy khá hợp lí. Vậy là không điều trị cho bé H nữa. Nhưng bệnh càng ngày càng nguy hiểm, không thể làm ngơ. Nay H đã lên 9 nhưng bé vẫn như đứa trẻ 5 tuổi. Ông Tèo lại lần nữa nói chuyện với vợ về việc điều trị cho con. Người mẹ nhìn con mà rơi nước mắt. Vợ: Hay mình cứ thử gọi điện cho bệnh viện xem sao. Đầu dây bên kia: Xin chào anh chị, tôi là bác sĩ K ở bệnh viện tỉnh, anh(chị ) có gì cần hỏi ạ? Ông Tèo: Liền kể hết bệnh tình của con gái mình cho bác sĩ nghe nhưng cũng không quên kèm câu hỏi, “vậy lấy tim ra rồi con tôi có sống được không bác sĩ?” Bác sĩ: Anh thật biết đùa, chúng tôi chữa bệnh mà bệnh nhân không sống thì
- chúng tôi chữa làm gì? Huống hồ tim có tính tự động. Khi cắt rời khỏi cơ thể vẫn có khả năng hoạt động bình thường nếu được cung cấp các điều kiện giống như trong cơ thể con người. Vậy tính tự động của tim là gì? Vì sao cắt rời khỏi cơ thể vẫn có khả năng co dãn nhịp nhàng nếu được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, ôxi và nhiệt độ thích hợp chúng ta cùng lắng nghe và tìm hiểu bài học hôm nay. Bài 20: ‘’Sinh trưởng và phát triển ở thực vật’’ Mục III. “Phát triển ở thực vật có hoa” Sinh học 11 Nhân vật tham gia chương trình gồm có: Phóng viên trải nghiệm Biết Tuốt ; Ông Huỳnh Thanh Tiến (Chủ vườn hoa ). Phóng viên: Xin chào tất cả các bạn, tôi là phóng viên Biết Tuốt của kênh “Hôm nay xem gì? ”. Tối hôm nay tôi đang có mặt tại “thủ phủ” trồng hoa cúc ở Đà Lạt. Như chúng ta đã biết, Đà Lạt rất tuyệt vời khi về đêm. Mà đối với bản thân tôi, nó lại tuyệt vời hơn nữa khi đứng từ trên cao ngắm nhìn hàng ngàn ngọn đèn rực sáng lung linh trên những luống hoa. Nhưng họ thắp đèn để làm gì thì các bạn hãy cùng theo chân tôi đến ghé thăm vườn hoa của chú Tiến để tìm hiểu lí do nhé. Phóng viên đi vào vườn hoa và tìm gặp ông Tiến. Phóng viên: Cháu chào chú ạ! Ông Tiến: Chào cháu! Phóng viên: Cháu là Biết Tuốt, phóng viên của kênh “Hôm nay xem gì?”. Chú có thể cho cháu tham quan vườn hoa của chú được không ạ? Ông Tiến: Ồ! Chú rất hoan nghênh, cháu có thể tham quan thoải mái đi. Phóng viên: Dạ cháu cảm ơn chú. Biết Tuốt vừa đi cùng ông Tiến vừa trò chuyện Phóng viên: Chú ơi, cháu thấy các vườn hoa cúc ở Đà Lạt vào mùa thu thường thắp đèn là vì lí do gì vậy ạ? Phải chăng là muốn tô điểm cho thành phố hay là có lí do gì khác ạ? Ông Tiến cười: Chú thắp đèn là vì những cây cúc vườn chú, chứ không có lí do gì khác đâu. Bởi vì cúc là cây ngắn ngày nên ra hoa vào mùa thu, vì mùa thu bắt đầu ban đêm dài hơn ban ngày thích hợp cho cúc nở hoa. Thắp đèn ở vườn cúc vào mùa thu nhằm rút ngắn thời gian ban đêm để cây cúc không ra hoa. Cúc ra hoa chậm sẽ giúp cuống dài hơn, đóa to hơn, đẹp hơn đấy. Phóng viên: À, thì ra là thế. Ánh sáng là 1 yếu tố quan trọng chi phối sự ra hoa ở thực vật,. Vậy ngoài ánh sáng còn có những nhân tố nào chi phối sự ra hoa của cây, chúng ta cùng nghiên cứu vào bài học hôm nay. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá giả thuyết khoa học của giải pháp: “Sử sụng phương pháp đóng vai nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh THPT thông qua dạy học bộ môn Sinh học lớp 11” đối với lớp 11A5 và lớp đối chứng là 11A4. Tôi tiến hành khảo sát học sinh trước và sau khi áp dụng phương pháp đóng vai. Kết quả thể hiện qua số liệu thống kê thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Giáp Hải. 1. Đánh giá định tính (theo phiếu điều tra) dành cho học sinh Bảng 1. Kết quả khảo sát: Đã xác định được mục đích giao tiếp (Mẫu phiếu 01) ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐUỢC Trước tác động Sau tác động
- MỤC ĐÍCH GIAO TIẾP Lớp thí Lớp đối Lớp thí Lớp đối nghiệm chứng nghiệm chứng (45 HS) (45 HS) (45 HS) ( 45 HS) 1. Phân tích được bối cảnh, xác 81,81% 80% 86,36% 78.88% định được nhu cầu giao tiếp. 2. Xác định được đối tượng 72,73% 67,83% 92,04% 67,83% giao tiếp. 3. Xác định được bối cảnh giao 69,3% 67,83% 90.91% 66,66% tiếp. 4. Lựa chọn nội dung giao tiếp 60,2% 51,17% 93.18% 52,22% phù hợp với chủ đề giao tiếp. Biểu đồ 1.1 : Tỉ lệ %học sinh đã xác định được mục đích giao tiếp Trước tác động. Sau tác động 100.00 % 90.00% 80.00% Sau tác động: 70.00% Lớp thí nghiệm 60.00% Sau tác động: 50.00% Lớp đối chứng 11. Phân tích 2. Xác định 3. Xác định 4. Lựa chọn được bối được đối được bối nội dung cảnh, xác tượng giao cảnh giao giao tiếp định được tiếp. tiếp. phù hợp với nhu cầu chủ đề giao giao tiếp. tiếp. Qua bảng khảo sát phiếu điều tra và biểu đồ 1.1 trên cho thấy, kết quả tác động được thể hiện ở số phần trăm học sinh đã xác định được các thành tố chính trong mục đích giao tiếp. Trước tác động số phần trăm thấp hơn kết quả phần trăm sau tác động. Tỉ lệ chênh lệch này được thấy rõ ở lớp làm thí nghiệm ứng dụng sáng kiến vào giảng dạy. Như vậy có thể kết luận phương pháp dạy học đóng vai có ý nghĩa quan trọng giúp học sinh đã bước đầu xác định được mục tiêu giao tiếp.
- Bảng 2. Kết quả khảo sát nội dung và phương thức giao tiếp: Đã xác đinh được các thành tố trong nội dung và phương thức giao tiếp (Mẫu phiếu 02) Trước tác động Sau tác động Đã xác định được nội dung và Lớp thí Lớp đối Lớp thí Lớp đối phương thức giao tiếp nghiệm chứng nghiệm chứng (45 HS) (45 HS) (45 HS) (45 HS) 1. Đầy đủ ý 72.72% 73.33% 95.45% 74.44% 2. Diễn đạt ý rõ ràng 70.45% 71.11% 94.31% 72.22% 3. Diễn đạt ý dễ hiểu 68.18% 68.88% 90.91% 68.88% 4. Ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh 65.90% 65.55% 89,77% 66.66% 5. Ngôn ngữ phù hợp với đối tượng người nghe 63.63% 64.44% 90,90 % 63.33% Biểu đồ 2.1 : Tỉ lệ % học sinh đã xác định được nội dung và phương thức giao tiếp Sau tác động Qua bảng 2 và biểu đồ 2.1 ở trên cho thấy, sau khi tác động (sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học) học sinh đã xác định được nội dung và phương thức giao tiếp. Số liệu này được thể hiện: trước tác động tỉ lệ phần trăm lớp đối chứng và lớp thí nghiệm xấp xỉ như sau; sau tác động lớp thí nghiệm có tỉ lệ phần trăm học sinh đã xác định được các thành tố trong nội dung và phương thức giao tiếp cao hơn hẳn lớp thí nghiệm trước tác động. Như vậy trong nội dung và phương thức giao tiếp khi áp
- dụng hoạt động đóng vai trong dạy học đã giúp học sinh có cách diễn đạt ý trong giao tiếp được rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn, đầy đủ ý hơn. Các ngôn ngữ trong giao tiếp phù hợp với ngữ cảnh hơn, phù hợp với người nghe hơn, gần gũi với đời sống thực tiễn. Bảng 3. Kết quả khảo sát thái độ giao tiếp: Đã xác định được các thành tố trong thái độ giao tiếp (Mẫu phiếu 03) Trước tác động Sau tác động Đã xác định được các thành tố Lớp thí Lớp đối Lớp thí Lớp đối trong thái độ giao tiếp nghiệm chứng nghiệm chứng (45 (45 HS) (45 HS) (45 HS) HS) 1. Chủ động trong giao tiếp 72.72% 72.22% 96,59% 71.11% 2. Linh hoạt trong các tình huống 61.36% 58.88% 94,31% 60.00% 3. Tự tin khi nói trước nhiều 68.18% 67.77% 98,86% 68.88% người 4. Tôn trọng người đối diện 90.90% 76.66% 100% 76.66% 5. Lắng nghe và có phản hồi tích 71.59% 72.22% 92,04% 73.33% cực trong giao tiếp 6. Đặt câu hỏi thể hiện sự quan 73.86% 73.33% 92,04% 76.66% tâm với người đối diện 7. Biết cách khen ngợi hay chê 65.90% 62.22% 92,04% 63.33% một cách khéo léo 8. Tạo thiện cảm trong giao tiếp 70.45% 71.11% 92,04% 72.22% bằng biểu cảm ngôn ngữ cơ thể 9. Động viên, khích lệ người đối 68.18% 67.77% 92,04% 67.77% diện tiến bộ 10. Biết kiềm chế trong tình 68.18% 67.77% 96,59% 67.77% huống tiêu cực 11. Tiếp thu một cách tích cực ý 69.31% 66.66% 96,59% 68.88% kiến của người đối diện Biểu đồ 3.1 : Tỉ lệ % học sinh đã xác định được các thành tố trong thái độ giao tiếp Sau tác động
- Qua bảng 3 và biểu đồ 3.1 trên cho thấy, sau khi tác động (sử dụng phương pháp đóng vai vào dạy học) học sinh đã có rất nhiều tích cực trong thái độ giao tiếp. Ta thấy tỉ lệ phần trăm lớp đối chứng khi trả lời bộ câu hỏi khảo sát các thành tố trong thái độ giao tiếp thấp hơn lớp thí nghiệm. Học sinh hầu như chưa chủ động, linh hoạt trong các tình huống giao tiếp, còn có thái độ tự ti khi nói trước đông người, khi phát biểu chính kiến. Ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ hình thể chưa linh hoạt, có bạn ngôn ngữ hình thể còn không thể hiện được. Tuy nhiên khi ứng dụng hoạt động đóng vai vào dạy học, việc học của học sinh hứng thú hơn nhiều. Khi khảo sát bằng phiếu hỏi về các thành tố trong thái độ giao tiếp tỉ lệ lớp làm thí nghiệm tăng lên rất đáng kể. Học sinh đã chủ động hơn trong giao tiếp, ngôn ngữ được thể hiện linh hoạt và phong phú hơn, học sinh biết cách khen ngợi và tạo thiện cảm tốt trong giao tiếp. Đặc biệt học sinh rất tự tin nói trước đông người, tích cực hơn trong các cuộc thảo luận học tập, tích cực đưa ra các chính kiến của bản thân, biết đặt câu hỏi thể hiện quan tâm đến người khác. Như vậy ta thấy rằng, việc sử dụng hoạt động đóng vai trong dạy học có ý nghĩa rất tích cực, giúp phát huy năng lực giao tiếp cho học sinh, tự đó giúp học sinh thích ứng được với hội nhập quốc tế trong thời đại mới. 2. Đánh giá định lượng thông qua bài kiểm tra tự luận của học sinh. Để đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh bằng điểm số thông qua các bài kiểm tra sau khi được học tập bằng các hoạt động đóng vai, tôi tiến hành đánh giá dựa trên 3 tiêu chí sau: Tiêu chí 1: Kĩ năng ghi nhớ kiến thức tự học thông qua việc nêu được nội dung của các khái niệm, quy luật, quá trình sinh học sau khi xem tiểu phẩm đóng vai. Tiêu chí 2: Trình bày được các mối quan hệ giữa kiến thức cốt lõi với kiến thức thành phần theo một logic khoa học qua tiểu phẩm đóng vai và các vấn đề thực tiễn. Tiêu chí 3: Trình bày được các ý tưởng vận dụng, sáng tạo gắn liền thực tiễn đời sống và sản xuất qua việc liên hệ giữa nội dung các tiểu phẩm với thực tiễn cuộc sống. Khi tổ chức bồi dưỡng năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua các các hoạt động đóng vai trong dạy học bộ môn Sinh học lớp 11, tôi đã tiến hành kiểm tra kết quả học tập của học sinh bằng điểm số theo 3 tiêu chí đã được xác định và thu được kết quả qua thống kê bằng phần mềm SPSS 20 như sau: Bảng 4. Kết quả thống kê điểm số của 3 bài kiểm tra trong quá trình thực nghiệm (TN)
- Điể m Kiểm tra đầu TN Kiểm tra giữa TN Kiểm tra sau TN Lớp TN Lớp ĐC Lớp TN Lớp ĐC Lớp TN Lớp ĐC SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 1 2.2 1 2.2 0 0 0 0 0 0 0 0 4 2 4.4 3 6.7 1 2.2 1 2.2 0 0 0 1 5 10 22 11 24 3 6.7 6 13 1 2.2 4 8.9 6 16 36 13 29 7 16 10 22 5 11 7 16 7 8 18 7 16 20 44 18 40 13 29 16 36 8 7 16 8 18 10 22 8 18 18 40 15 33 9 1 2.2 2 4.4 3 6.7 2 4.4 6 13 3 6.7 10 0 0 0 0 1 2.2 0 0 2 4.4 0 0 Qua bảng số liệu số 4, chúng ta có các biểu đồ biểu thị tỷ lệ % điểm số giữa các lớp thực nghiệm và đối chứng ở 3 thời điểm thực nghiệm như sau: - Ở giai đoạn đầu thực nghiệm: Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ % các điểm số của lớp TN và ĐC ở giai đoạn đầu 35 30 25 20 15 10 5 0 Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3 Điểm 4 Điểm 5 Điểm 6 Điểm 7 Điểm 8 Điểm 9 Điểm 10 Lớp TN Lớp ĐC Qua biểu đồ 4.1, chúng ta thấy rằng tỷ lệ HS có điểm số ở các con điểm gần như là tương đương nhau, sự chênh lệch chỉ diễn ra ở một số con điểm, nhưng sự chênh lệc là không đáng kể. - Ở giai đoạn giữa thực nghiệm: Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ % các điểm số của lớp TN và ĐC ở giai đoạn giữa thực nghiệm

