Tập san chuyên môn tháng 10 - Trường THPT Giáp Hải
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tập san chuyên môn tháng 10 - Trường THPT Giáp Hải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tap_san_chuyen_mon_thang_10_truong_thpt_giap_hai.pdf
Nội dung tài liệu: Tập san chuyên môn tháng 10 - Trường THPT Giáp Hải
- TẬP SAN CHUYÊN MÔN TẬP SAN NỘI BỘ CỦA TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI SỐ 02 TIN NỔI B ẬT TRONG THÁNG 10/2024 Tháng 10.2024 1. Tiếp tục thực hiện Chủ đề năm học 2024-2025: CHỈ ĐẠO NỘI DUNG “Đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, đoàn kết * kỷ cương”. NGƯT. Lưu Hải An 2. Thành tích tiêu biểu trong tháng 10/2024: (i). ThS. Nguyễn Tuấn Anh 01 Huy chương Đồng môn Bơi HKPĐ cấp Tỉnh; (ii). ThS. Trần Văn Trung Giải Khuyến khích Giải chạy tập thể - Giải Báo Bắc Giang "Đất thiêng hội tụ"; (iii). 01 giải Khuyến BIÊN TẬP VÀ TRÌNH BÀY khích cắm hoa nghệ thuật do LĐLĐ tỉnh tổ chức; (iv). Giải Nhì thi Bóng chuyền hơi cụm thành phố. Giáp Văn Hoàng Thịnh 3. Tổ chức thành công Hội khỏe Phù đổng cấp Hà Hải Oanh trường năm học 2024-2025. Nguyễn Văn Thanh 4. Đăng cai và tổ chức thành công đợt sinh hoạt chuyên môn cấp tỉnh môn Toán. ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ 5. Phối hợp với Sở Tư pháp và Sở Lao động, Thương binh, Xã hội tổ chức 02 Hội nghị tuyên Trường THPT Giáp Hải truyền phổ biến giáo dục pháp luật với các chủ đề về Xã Tân Mỹ, TP Bắc Giang an toàn giao thông đường bộ và phòng chống tệ nạn mại dâm năm 2024. ĐIỆN THOẠI 6. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế (0204). 3551. 299 chuyên môn của giáo viên; nền nếp học tập của học sinh. EMAIL 7. Tổ chức gặp mặt HS các đội tuyển văn hóa cấp thptgiaphai@bacgiang.edu.vn tỉnh và giáo viên bồi dưỡng đội tuyển. 8. Công tác tình nguyện: Tặng quà cho 21 học WEBSITE sinh người dân tộc thiểu số và 05 học sinh bị ảnh hưởng cơn bão số 3.
- 2 THÊM MỘT CÁCH HIỂU VỀ KHÁI NIỆM “ĐỌC HIỂU” VÀ “ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN” ĐƯỢC TRÌNH BÀY DƯỚI DẠNG VĂN BẢN NHẬT DỤNG A. KHÁI NIỆM “ĐỌC HIỂU” VÀ “ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN” 1. Khái lược chung về đọc hiểu và năng lực đọc hiểu Thuật ngữ “đọc hiểu” (reading comprehension) được đưa vào nhà trường Việt Nam từ đầu thế kỉ XX và đến nay đã trở nên quen thuộc, là thuật ngữ tất yếu được sử dụng trong các giờ dạy học Ngữ văn. Đọc hiểu văn bản chính là nội dung khoa học, nội dung phương pháp gắn liền với quan điểm dạy học hiện đại trong giáo dục hiện nay. Đọc hiểu được coi là một năng lực chung cốt lõi thuộc năng lực sử dụng ngôn ngữ trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới. Trong khoảng gần hai chục năm trở lại đây, đọc hiểu đã trở thành một nội dung của nhiều chương trình đánh giá kết quả giáo dục mang tính toàn cầu như TIMSS, PIRLS, PISA, Có nhiều quan niệm khác nhau về đọc hiểu và năng lực đọc hiểu. Chúng tôi xin được nhất trí với cách hiểu về năng lực đọc hiểu theo quan điểm của nhóm tác giả Lê Quang Hưng (Chủ biên), trong cuốn Hướng dẫn ôn luyện thi THPT quốc gia 2018 năm 2016 như sau: Trên thế giới, theo PISA, “năng lực đọc hiểu được hiểu là khả năng biết đọc, có trình độ đọc hiểu”, “là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một bài đọc viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội”. Theo đó, định nghĩa về đọc và đọc hiểu có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là quan niệm mà hơn 70 nước tham gia PISA – trong đó có Việt Nam – đồng tình và làm theo yêu cầu của Chương trình đánh giá học sinh quốc tế này. Mặc dù quan niệm của PISA về đọc hiểu không dựa vào các yêu cầu của chương trình môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông của một nước cụ thể nào mà xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với hệ thống giáo dục, những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai của học sinh nhưng những yêu cầu của PISA có liên quan mật thiết với việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông của nhiều nước trên thế giới. Điều này được thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều nước tham gia PISA, trong đó có Việt Nam. Từ kết quả đánh giá của PISA về trình độ đọc hiểu của học sinh nước mình, Việt Nam cũng như các nước đều có sự điều chỉnh nhất định để việc dạy học đọc hiểu trong nhà trường phổ thông phù hợp với thực tiễn và bắt kịp xu thế quốc tế. Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc – hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc – hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc” [4 ;9]. “Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ. Đọc chính xác thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [4 ; 9]. Theo đó, tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của “hiểu”: “Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu tức là phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì?, Như thế nào?, Vì sao?, Làm như thế nào?. Đó là biết và làm trong đọc hiểu Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn”[4 ; 9]. Từ đó, tác giả nêu lên những nội dung cần “hiểu” trong tác phẩm văn học với các tiêu chí cụ thể: “1. Khám phá ý nghĩa nội dung chứa đựng trong văn bản. Ý nghĩa này do tác giả bày tỏ, biểu lộ trong văn bản.
- 3 2. Hiểu mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả xây dựng và tổ chức nên. 3. Khẳng định mục đích, ý đồ, nội dung thực hiện, tiền giả định. 4. Đánh giá tư tưởng của tác giả. 5. Sáp nhập, hòa đồng thông tin và tư tưởng của tác giả với tri thức và kinh nghiệm phù hợp với người đọc”[4 ; 9 ]. GS. TS Trần Đình Sử đã chỉ ra một số nội dung quan trọng về đọc hiểu: “Một, đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản”; phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản. Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa). Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá trình quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa và hiểu thế giới). Như thế, đọc là một hoạt động văn hóa có tầm nhân loại và ý nghĩa giáo dục sâu sắc” [4 ; 9].Tác giả còn nêu lên suy nghĩ của mình về “hiểu” trong “đọc hiểu”. Theo ông, “hiểu” có nội hàm rất rộng: “ 1) Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ, ). 2) Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ. 3) Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh. 4) Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng. Bản chất tâm lí của sự hiểu là biến cái của người khác thành cái vừa của mình, vừa của người khác. Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình” [4 ; 10]. Theo quan điểm của PGS. TS Nguyễn Thái Hòa thì đọc – hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tập tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin cấu trúc văn bản. PGS. TS Nguyễn Thị Hạnh dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định đọc hiểu “là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình (người đọc)”[4 ; 10]. Như vậy, trong mỗi quan niệm trên đây, dù đứng ở góc độ nào cũng thấy “đọc” được coi là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi sử dụng nhiều kĩ năng; “hiểu” là mục đích của “đọc”; để đọc hiểu, người đọc phải tích cực, chủ động khám phá văn bản. 2. Chuẩn đọc hiểu Chương trình của mỗi quốc gia đều nêu lên những chuẩn kiến thức, kĩ năng/ kết quả đầu ra mà học sinh phải đạt được khi đọc hiểu văn bản. Ở Việt Nam, chương trình Ngữ văn không có phần nêu riêng chuẩn kiến thức, kĩ năng đọc hiểu chung/ khái quát mà chỉ nêu chuẩn kiến thức, kĩ năng đọc hiểu của từng khối lớp, với từng văn bản cụ thể, chủ yếu là văn bản văn học. Kế thừa những yêu cầu của chương trình hiện hành, kết hợp với xu thế quốc tế về chuẩn đọc hiểu, chúng tôi cho rằng, năng lực đọc hiểu của học sinh, nhìn chung được thể hiện ở ba khía cạnh với những chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản sau đây: 2.1. Có tri thức về văn bản - Hiểu ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản. - Hiểu cấu trúc của từng loại trong văn bản. - Hiểu thể loại của văn bản. - Hiểu phương thức biểu đạt của văn bản. - Hiểu đề tài của văn bản.
- 4 2.2. Có kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu nói chung và với từng loại văn bản cụ thể - Đọc lướt để tìm chủ đề hoặc các ý chính. - Đọc kĩ để tìm chi tiết/ thông tin. - Nhận biết và ghi nhớ thông tin/ chi tiết/ hình ảnh. - Giải thích, cắt nghĩa, phân tích, phân loại, kết nối, so sánh thông tin/ chi tiết/ hình ảnh để nắm được nội dung chính của văn bản, hiểu mối quan hệ giữa các thông tin/ chi tiết/ hình ảnh trong văn bản. - Rút ra được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản từ các chi tiết/ hình ảnh/ thông tin từ văn bản; dùng thông tin trong văn bản để thực hành giải quyết vấn đề đơn giản tương tự như vấn đề nêu trong văn bản. - Phản hồi văn bản bằng cách liên kết thông tin trong văn bản với kinh nghiệm, với những điều cá nhân quan tâm; đánh giá về nội dung, hình thức, ý nghĩa của văn bản và phong cách của tác giả một cách khách quan. 2.3. Vận dụng những tri thức, kĩ năng có liên quan hoặc cần đến đọc hiểu để thực hiện các nhiệm vụ học tập và các hoạt động đời sống - Đọc các văn bản mới dựa trên những kinh nghiệm đã tích lũy được từ việc đọc hiểu các văn bản được dạy trong nhà trường. - Nói, viết về một vấn đề văn học hoặc đời sống dựa trên những kết quả đọc hiểu văn bản. - Trình bày giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ sự vận dụng nội dung của văn bản đã đọc. Nói thêm về các loại văn bản được đưa ra đọc hiểu, trên thực tế, từ năm học 2013- 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh trong môn Ngữ văn, trong đó có đổi mới kiểm tra, đánh giá đọc hiểu văn bản, đưa văn bản thông tin vào đề thi môn Ngữ văn ở kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông của năm học này và sẽ tiếp tục đổi mới sâu hơn ở những năm học tiếp theo. Việc làm này có tác động rất tích cực đến quá trình dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản ở nhà trường trung học phổ thông, đặc biệt là trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 hiện hành ở bộ môn Ngữ văn. Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào vấn đề xem xét các quan niệm khác nhau về đọc hiểu văn bản mà nhấn mạnh vào những yêu cầu mang tính quy định về khái niệm và kĩ năng đọc hiểu cho học sinh trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện nay cũng như trình bày những nét khái quát về mục đích, yêu cầu và các bước đọc hiểu văn bản thông tin. 3. Đọc hiểu văn bản thông tin 3.1. Quan niệm về văn bản thông tin Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Ngôn ngữ và Văn học của nhiều nước trên thế giới hiện nay xuất hiện khái niệm “Văn bản thông tin”. Khái niệm này cũng đã được nhiều nhà khoa học giáo dục Ngữ văn trong nước quan tâm và đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu. Nhưng có một thực tế là chưa có khái niệm hoàn chỉnh nào về văn bản thông tin, đặc biệt là trong chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy học văn bản thông tin trong nhà trường. Văn bản thông tin khác với văn bản văn học, chủ yếu được viết để truyền đạt thông tin hoặc kiến thức. “Về cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn bản thành tri thức của mình với mục đích sử dụng luôn trong học tập và đời
- 5 sống hoặc làm tư liệu cho mai sau”, “người đọc sẽ có hai tư tưởng khi đọc văn bản thông tin, một là để trải nghiệm; hai là để định vị và ghi nhớ thông tin. Do đó, với hầu hết các văn bản thông tin, sự chú ý của người đọc sẽ tập trung chủ yếu vào những điều họ sẽ thu được từ việc đọc – tức là thông tin chứa đựng trong văn bản”[ 4; 16]. 3.2. Đặc điểm của văn bản thông tin Thuật ngữ “văn bản thông tin” dù được nghiên cứu từ nhiều góc nhìn khác nhau nhưng chúng tôi nhận thấy văn bản thông tin đều có những điểm chung như: bao giờ cũng cung cấp kiến thức, nội dung thông tin về đối tượng một cách khách quan, chi tiết, giúp người đọc, người nghe hiểu những gì được mô tả bằng cách tổ chức hoặc phân loại thông tin. Trong văn bản, tác giả sử dụng những cách thức hoặc phương tiện, tính năng để hỗ trợ người đọc trong việc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Đó có thể là một bảng nội dung, một chỉ số, chữ in đậm hoặc in nghiêng, chú giải cho vốn từ vựng chuyên ngành, định nghĩa từ vựng chuyên ngành, minh họa cho hình ảnh, ghi chú, chú thích đồ thị và biểu đồ Những tính năng này của văn bản thông tin giúp người đọc dễ dàng hơn trong việc điều hướng thông tin để hiểu nội dung của nó. Văn bản thông tin thường xuất hiện trong sách giáo khoa các môn học, các tài liệu quảng cáo, các báo hoặc trang web , được viết theo các phong cách ngôn ngữ như sinh hoạt, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính. Chúng có thể là văn bản được in trên giấy theo kiểu truyền thống hoặc là từ những văn bản kĩ thuật số. Đây là loại văn bản rất phổ biến và hữu dụng trong học tập và đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân. Vì vậy, học sinh rất cần được dạy học đọc hiểu loại văn bản này trong nhà trường để ứng dụng vào thực tiễn. 3.3. Yêu cầu của đọc hiểu văn bản thông tin Khi đọc hiểu văn bản thông tin, người đọc cần phải quan tâm đến việc nắm được thông tin chính và ý nghĩa xã hội, giáo dục, thời sự, tư tưởng, của loại văn bản này. Từ đó, ứng dụng những điều đã đọc được vào học tập và cuộc sống. Với loại văn bản này, khi đọc hiểu thường hạn chế đặt ra vấn đề tìm hiểu hình thức nghệ thuật trong quá trình đọc. Có thể tham khảo quan niệm của PISA trong việc đề ra các nhiệm vụ/ nội dung đọc hiểu bởi các nhiệm vụ/ nội dung đọc hiểu mà PISA đưa ra rất phù hợp với loại văn bản này. PISA 2012 cho rằng khi đọc hiểu, người đọc phải hoàn thành năm nhiệm vụ đọc, cũng là năm bước trong quá trình đọc hiểu như sau: - Lấy thông tin từ văn bản. - Tạo nên sự hiểu biết chung về văn bản. - Giải thích về văn bản. - Phản ánh và đánh giá về nội dung của văn bản. - Phản ánh và đánh giá về hình thức của văn bản. Năm nhiệm vụ trên được tổ chức thành ba khía cạnh chính: truy cập và lấy thông tin; tích hợp và giải thích; phản ánh và đánh giá. PISA 2012 còn đưa ra sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa khung đọc và các khía cạnh của đọc như sau:
- 6 Khả năng đọc Sử dụng kiến thức từ trong văn bản Sử dụng kiến thức từ bên ngoài văn bản Truy cập và lấy thông tin Tích hợp và giải thích Phản ánh và đánh giá Lấy thông tin Tạo nên hiểu biết Giải thích Nội dung Hình thức về văn bản về văn bảncủa văn bản của văn bản Với loại văn bản thông tin, có thể áp dụng sáu mức độ mà PISA đã nêu để tiến hành đọc hiểu. Cụ thể là: - Mức độ 6: Người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người đọc phải thể hiện/ trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều văn bản và có thể tích hợp thông tin từ nhiều văn bản. Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những thông tin nổi bật, mang tính khái quát của văn bản. Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một văn bản có tính tổng hợp/ đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về văn bản. Một điều kiện quan trọng đối với phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ trong văn bản. - Mức độ 5: Liên quan đến việc lấy thông tin, người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong văn bản. các nhiệm vụ phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/ chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giải và phản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một văn bản có nội dung hoặc hình thức mới. Đối với tất cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường. - Mức độ 4: Bao gồm việc lấy thông tin, người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong văn bản. Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của văn bản. Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một văn bản. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một văn bản dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc. - Mức độ 3: Đòi hỏi người học xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin. Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một văn bản để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ. Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/ nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ văn bản, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết) trái với kì vọng/ suy nghĩ thông thường hoặc có những diến đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của văn bản. Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của văn bản liên quan đến tri thức hằng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết văn bản, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến thức ít phổ biến hơn.
- 7 - Mức độ 2: Đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một văn bản, hiểu các mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một phần trong văn bản được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của văn bản. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các văn bản và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân. - Mức độ 1a: Đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một văn bản về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các văn bản là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/ nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong văn bản. - Mức độ 1b: Đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một văn bản đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một văn bản tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các văn bản thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/ nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau. Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ 6, 5, 4 bao gồm việc hiểu văn bản được học, vận dụng vào đọc văn bản mới; các mức độ còn lại áp dụng với những văn bản được học hoặc quen thuộc với người đọc. Bởi thế, chúng tôi nhận thấy, việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông là kịp thời và hết sức cần thiết, bên cạnh việc dạy học trọng tâm xưa nay là các văn bản văn học. Trong thời đại nền kinh tế 4.0 như hiện nay, việc đọc hiểu và xử lí được chính xác các văn bản thông tin càng cần hơn bao giờ hết. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin mạnh dạn bước đầu trình bày thêm một cách hiểu về khái niệm “Đọc hiểu” và “Đọc hiểu văn bản thông tin” như đã trình bày ở trên để người đọc mà trực tiếp là học sinh bậc THPT có thêm cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về khái niệm “Đọc hiểu” và “Đọc hiểu văn bản thông tin” để ứng dụng vào tìm hiểu, nghiên cứu nhóm các văn bản thông tin được đề cập trong SGK Ngữ văn theo chương trình GDPT 2018 hiện hành. B. VẬN DỤNG VÀO DẠNG BÀI ĐỌC HIỂU CÁC VĂN BẢN THÔNG TIN ĐƯỢC TRÌNH BÀY DƯỚI DẠNG VĂN BẢN NHẬT DỤNG 1. Phương pháp chung Trước hết, cần xác định rõ văn bản nhật dụng “không phải là một khái niệm chỉ thể loại văn học hoặc kiểu văn bản” mà xuất phát từ góc độ chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung được đề cập (những vấn đề gần gũi và bức xúc của đời sống hiện tại như chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình, bảo vệ môi trường, chống các tệ nạn xã hội, thực hiện bình đẳng giới, đổi mới tư duy, ). Về mặt hình thức, văn bản nhật dụng được thể hiện bằng hầu hết các thể loại văn học và kiểu văn bản nhưng phổ biến và phù hợp nhất vẫn là các tác phẩm thông tấn – báo chí. Do đó, khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản dạng này, cần lưu ý một số vấn đề sau: Bước 1. Hướng dẫn HS đọc văn bản GV hướng dẫn HS đọc văn bản lần lượt từ đầu đến hết văn bản, chú ý đánh dấu bằng gạch chân hoặc ghi ra lề, giấy dấu những dẫn chứng quan trọng.
- 8 Bước 2. GV tổ chức các hoạt động học tập, đặt câu hỏi để lần lượt tìm hiểu các thông tin của văn bản mà tác giả muốn chuyển tải tới người đọc. Từ đó, người học rút ra những bài học thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, từ đó góp phần giải quyết các vấn đề cấp thiết của xã hội, tạo dựng một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn. Bước 3. HS làm bài tập vận dụng để củng cố bài học. GV kiểm tra, nhận xét, đánh giá năng lực tiếp nhận thông tin của HS. 2. Các ví dụ Ví dụ 1: Vận dụng phương pháp nêu trên để đọc hiểu văn bản “Thông điệp nhân Ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 -12 – 2003” (Cô – phi An - nan) Văn bản: Cách đây hai năm, các quốc gia trên thế giới đã nhất trí rằng để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS, cần phải có sự cam kết, nguồn lực và hành động. Tại phiên họp đặc biệt vào năm 2001 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS, các quốc gia đã nhất trí thông qua “Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS”, trong đó đưa ra một loạt mục tiêu cụ thể kèm theo thời hạn để chiến đấu chống lại dịch bệnh này. Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế. Đến thời điểm này, ngân sách dành cho phòng chống HIV đã được tăng lên một cách đáng kể, nhờ vào sự cam kết đóng góp tại từng quốc gia. Đồng thời, vấn để thành lập Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét cũng đã được thông qua. Đại đa số các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS của mình. Ngày càng có nhiều công tỉ áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc. Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng đã luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS, hiện đang hoạt động tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức khác để cùng nhau ứng phó với bệnh dịch này. Nhưng cũng chính trong lúc này, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV. Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng. HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới. Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi U-ran đến Thái Bình Dương. Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo “Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS”. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất ; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa tỉ lệ trẻ sơ sinh bị nhiễm; và lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi. Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005. Rõ ràng, chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết. Chúng ta không thể tuyên bố rằng những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn và cấp bách hơn. Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình. Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được
- 9 tiến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đổi với những người bị HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa "chúng ta" và "họ". Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết. Nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng với tôi lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/AIDS. Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này. Hãy sát cánh cùng tôi, boiwr lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn. (Theo bản dịch đăng trên báo “Giáo dục và Thời đại”, ngày 11 – 12- 2003) Hướng dẫn đọc hiểu: Bước 1. Hướng dẫn HS đọc văn bản GV hướng dẫn HS đọc văn bản lần lượt từ đầu đến hết văn bản, chú ý đánh dấu bằng gạch chân hoặc ghi ra lề, giấy dấu những dẫn chứng quan trọng ( “Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”; “Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”, ). GV lưu ý cho HS đọc những câu văn thể hiện tâm trạng nuối tiếc của tác giả khi không hoàn thành mục tiêu: “lẽ ra ” và đặc biệt đoạn cuối với lời kêu gọi chân thành, xúc động và tha thiết của Cô – phi An – nan trong cuộc chiến chống đại dịch HIV/AIDS. Bước 2. GV tổ chức các hoạt động học tập, đặt câu hỏi để lần lượt tìm hiểu các thông tin của văn bản mà tác giả muốn chuyển tải tới người đọc. Từ đó, người học rút ra những bài học thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, từ đó góp phần giải quyết các vấn đề cấp thiết của xã hội, tạo dựng một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn. * Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm Câu hỏi: Em hãy trình bày những nét cơ bản về tác giả Cô – phi An – nan? Cùng với sự ra đời của bản thông điệp, em hãy cho biết phẩm chất, vị trí, vai trò và thái độ của Cô-phi An- nan đối với công cuộc chống đại dịch hiểm họa cho loài người ? HS tìm thông tin từ phần tiểu dẫn SGK và các nguồn tài liệu tham khảo để trả lời, nhấn mạnh: - Cô – phi An – nan sinh năm 1938 tại Ga – na, một nước cộng hòa thuộc Châu Phi. Sau hơn nửa thế kỉ (1945-1997), Liên hợp quốc mới có một người thuộc châu Phi, da đen được bầu vào chức vụ Tổng thư kí. Đó không chỉ là chiến thắng của tinh thần bình đẳng, bình quyền giữa các dân tộc trên trái đất mà còn là sự thừa nhận những phẩm chất ưu tú của cá nhân Cô-phi An- nan. - Được trao giải thưởng Nô- ben Hoà bình năm 2001 là sự ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với việc xây dựng "một thế giới được tổ chức tốt hơn và hoà bình hơn". Giữa bề bộn những lo toan nhiều mặt cho đời sống nhân loại, ông vẫn không quên dành sự ưu tiên đặc biệt cho cuộc chiến chống đại dịch HIV/AIDS. - Bản Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 -12 – 2003 thuộc vào số những bằng cứ có thể nói lên mối quan tâm đặc biệt ấy. Tác phẩm được C. An – nan công bố hơn hai năm sau khi ông ra Lời kêu gọi hành động trước hiểm họa HIV/AIDS và tiến hành vận động thành lập Quỹ Sức khỏe và AIDStoàn cầu. Văn kiện này chứng tỏ quyết tâm bền bỉ của ông trong việc theo đuổi cuộc đấu tranh chống lại một mối hiểm nguy đang đe dọa toàn nhân loại.
- 10 * Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản trên cơ sở những vấn đề lớn sau: Câu hỏi: Bản thông điệp nêu lên vấn đề gì? Trả lời: HIV/ AIDS là nạn đại dịch gây tỉ lệ tử vong cao, tốc độ lây lan nhanh và chưa tìm ra thuốc đặc hiệu điều trị, trở thành hiểm hoạ cho đời sống nhân loại. Là người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất, Cô- phi An- nan kêu gọi các quốc gia và toàn thể nhân dân thế giới nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch này và tích cực chung tay góp sức ngăn chặn, đẩy lùi hiểm hoạ. Văn kiện này còn là một văn bản nhật dụng, vì thế, sau khi cho HS trả lời câu hỏi trên, Gv cần kiểm tra kiến thức về HIV/ AIDS của HS (HIV/ AIDS là gì? HIV khác với AIDS khác nhau và liên quan với nhau như thế nào? Vì sao HIV/ AIDS được coi là đại dịch, là hiểm họa cho đời sống của dân tộc và nhân loại? Tình hình phòng chống đại dịch và hiểm họa ấy ở địa phương của anh/ chị, ở đất nước ta và trên toàn thế giới tại thời điểm anh/ chị đang học bài này?...). Sau đó, GV có thể tổ chức cho HS thảo luận về cách tổng kết tình hình phòng chống HIV/ AIDS trong bản thông điệp: Câu hỏi: Tổng thư kí Liên hợp quốc đã làm thế nào để cho việc tổng kết tình hình thực tế của mình không chỉ trung thực, đáng tin cậy mà còn là cơ sở để dẫn tới những kiến nghị mà ông sẽ nêu sau đó? Cần hướng dẫn HS tìm thông tin trong văn bản và thấy được: - Phần điểm tình hình viết không dài, nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu toàn diện và bao quát. Văn kiện nêu đầy đủ cả mặt đã làm được và mặt còn chưa tốt; tại những khu vực khác nhau trên thế giới; trong những giới tính, lứa tuổi khác nhau; những hành động không chỉ của các quốc gia mà còn của cả các tổ chức, công ti, nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng Tác giả đã thể hiện được một tầm nhìn rộng lớn, xứng đáng với cương vị của một người đang gánh vác trọng trách Tổng thư kí Liên hợp quốc. - Nhưng tổng hợp, bao quát không có nghĩa là chung chung, trừu tượng. Tác giả bản thông điệp còn tỏ ra nắm rất vững điều ông cần thông báo. C. An – nan đã đưa vào trong văn kiện của ông không ít số liệu, tình hình cụ thể, được cung cấp một cách chọn lọc và rất kịp thời, chẳng hạn: HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở giới nào; tại khu vực nào mới đây còn được coi là “hầu như an toàn”, nay bệnh dịch này lại đang lan rộng nhanh hơn cả; căn cứ vào đâu để lo ngại “chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005”. C. An – nan còn tỏ ra khá thành công trong việc lựa chọn và sáng tạo những cách thức thích hợp để những dữ kiện, những con số được ông đưa ra có thể tác động mạnh nhất, trực tiếp nhất tới tâm trí người nghe. Ví dụ, thay vì nêu tổng số người bị nhiễm HIV trong khoảng một năm, C. An – nan đã tìm đến cách nói có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ và ngay lập tức đối với tâm trí con người: “ Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”. - Cách tổng kết tình hình của C. An – nan có trọng tâm và điểm nhấn. Sức nặng trong những lời tổng kết tình hình của C. An – nan đã được tập trung nhiều nhất vào luận điểm: “Song hành động của chúng ta vẫn còn quá ít so với yêu cầu thực tế”. Hiệu quả nghị luận ấy được làm nên không chỉ nhờ tác giả viết về những điều chúng ta chưa làm được dài hơn, hay tỉ mỉ, kĩ lưỡng hơn. Cái quyết định ở đây không phải là số lượng câu chữ. Đọc bản thông điệp, ta thấy dường như xúc cảm chân thành của tác giả đã được đặt nhiều hơn vào đoạn nói về dịch HIV/
- 11 AIDS “có rất ít dấu hiệu suy giảm”, do chúng ta chưa “hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay” (2003). * GV tổ chức cho HS đọc diễn cảm, sau đó, thảo luận phần cuối của bản thông điệp. Câu hỏi gợi ý: Trong lời kêu gọi mọi người phải nỗ lực phòng chống HIV/ AIDS nhiều hơn nữa, tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh đến điều gì? Khi sơ kết thảo luận, GV cần làm cho HS nhận thấy: - Phần này gắn bó rất khăng khít với phần trên. Bởi không thể xác định đúng nhiệm vụ khi còn chưa nắm vững tình hình. Mặt khác, về mặt nào đó, việc nêu tình hình cũng để nhằm làm cho người đọc nhận rõ hơn nhiệm vụ. Trong văn kiện này, việc thông báo tình hình chỉ là cơ sở, còn việc xác định nhiệm vụ mới là mục đích. Mối quan hệ giữa hai phần trong thông điệp được thể hiện rất rõ qua sự liên kết chặt chẽ giữa câu cuối cùng của phần trước ( “Với tiến độ như hiện nay, chúng ta sẽ không đạt được bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005”) với câu viết đầu tiên của phần sau ( “Rõ ràng, chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết”). - Nhưng C. An – an không chịu dừng ở những lời kêu gọi chung chung, kiểu như “chúng ta cần phải nỗ lực hơn nữa”. Ông đã tìm nhiều cách để làm cho những lời rất dễ lâm vào nguy cơ mòn sáo ấy trở nên sống động, tha thiết và thấm thía hẳn lên. Chẳng hạn như cách thức vận dụng sáng tạo các thao tác so sánh và bác bỏ để khẳng định rằng chúng ta không chỉ vì các mục tiêu của cuộc cạnh tranh mà được phép quên cái thảm họa đang ngày một nhanh chóng cướp đi cái đáng quý nhất là sinh mệnh và tuổi thọ của con người. Hay cách ông tạo ra mối tương quan giữa một bên là sự thờ ơ trước dịch HIV/ AIDS, với loài người, là vấn đề có ý nghĩa sinh tử, tồn vong “sống hay không sống”. Cho đến tận câu cuối cùng của bản thông điệp, C. An – nan vẫn không thôi nhắc nhở mỗi chúng ta đừng quên nghĩa vụ cần thiết cấp bách ấy: “Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn”. - C. An – nan còn gắn nỗ lực chống HIV/ AIDS với việc loại bỏ thái độ phân biệt đối xử với những người không may mắc phải bệnh dịch này. Vị Tổng thư kí Liên hợp quốc đã nêu lên trong văn kiện của mình một luận điểm có thể là khá bất ngờ đối với nhiều người: “[ ] chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người bị HIV/ AIDS”. Để rồi sau đó, ông sẽ gộp chung cả sự im lặng với sự chia rẽ và phân biệt đối xử vào “cái thành lũy” đang vây quanh bệnh dịch này, cái thành lũy mà ông hô hào mọi người trên thế giới hãy cùng ông chung tay giật đổ. Cuối cùng, GV chốt lại những kiến thức cơ bản theo tinh thần của phần ghi nhớ trong SGK và yêu cầu HS làm phần Luyện tập. Bước 3. HS làm bài tập vận dụng để củng cố bài học. GV kiểm tra, nhận xét, đánh giá năng lực tiếp nhận thông tin của HS. Bài tập: Viết một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV/ AIDS ở địa phương anh/ chị. GV hướng dẫn HS thu thập thông tin, số liệu để viết thành một bản báo cáo về tình hình phòng chống HIV/ AIDS ở địa phương nơi HS sinh sống. Ví dụ 2: Vận dụng ba bước nêu trên để đọc hiểu văn bản viết về vấn đề kêu gọi bảo vệ môi trường biển sau: Yuri Gagarin, người đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất đã có lần tâm sự: "Sau khi bay vòng quanh Trái Đất trên tàu vũ trụ, tôi thấy hành tinh của chúng ta đẹp biết bao. Các bạn ơi, hãy cùng bảo vệ và làm cho vẻ đẹp này thêm tươi sắc, chứ đừng hủy hoại nó nhé!".
- 12 Thế nhưng, Trái Đất tươi đẹp với 3 phần 4 là biển và đại dương đang bị xâm hại nghiêm trọng. Thay vì cố gắng tìm một hành tinh khác có sự sống trong dải ngân hà, tại sao chúng ta không cứu lấy Trái Đất và việc đầu tiên cần làm là lắng nghe tiếng gọi của biển xanh? Biển như người mẹ cung cấp cho con người rất nhiều thứ, từ nguồn lợi du lịch, khoáng sản, hải sản, giao thông nhưng biển chưa bao giờ đòi hỏi loài người phải trả lại cho biển điều gì cả. Ngược lại, con người đối xử bất công và thực sự vô ơn. Phải mất hàng trăm năm con người mới nhận ra Trái Đất nóng lên, băng từ hai cực tan ra, mực nước biển ngày càng dâng lên. Phải mất hàng trăm năm con người mới nhận ra nguồn hải sản đang cạn kiệt, nhiều loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng. Và khi cá chết ở nhiều nơi, người ta mới giật mình tự hỏi hình như nước biển đang ô nhiễm. Đại dương mênh mông cũng đáp trả con người bằng những hành động giận dữ. Không gì khác đó chính là sự biến đổi khí hậu. Khi chiến thắng trong một hạng mục của giải thưởng OSCAR, diễn viên Leonardo vẫn không quên truyền đi một thông điệp tới cả thế giới: “Chiến thắng này cũng là một cơ hội quan trọng để mọi người chú ý nhiều hơn đến tình trạng biến đổi khí hậu và thúc đẩy hành động của chính chúng ta”. Những mùa đông băng giá hơn, mùa hè nắng nóng hơn, khắc nghiệt hơn. Mực nước biển dâng lên làm xâm nhập mặn, đất nhiễm phèn, ảnh hưởng cả một nền nông nghiệp. Những cơn bão hay sóng thần thường xuyên hơn dữ dội hơn bao giờ hết, nó cuốn trôi cả con người và mọi thứ trên đường đi của mình. Nhiều người vẫn không thể quên được lời nói xúc động của cô bé 6 tuổi trước khi buông tay mẹ và bị cơn bão Haiyan cuốn đi: "Mẹ, mẹ hãy buông con ra. Mẹ hãy tự cứu lấy mình". Phải chăng đã đến lúc con người phải tự cứu lấy chính mình trước khi quá muộn. Vì lợi nhuận kinh tế, con người sẵn sàng hủy hoại môi trường biển. Có người vì lợi nhuận nhỏ bán hàng ngay tại bãi biển, các khu du lịch tiếp tay cho du khách xả rác vô điều kiện. Có người vì lợi nhuận lớn hơn thảm sát cá bằng các phương tiện hủy diệt. Có người vì lợi nhuận lớn hơn nữa sẵn sàng xả thải trực tiếp các chất hóa học độc hại xuống biển. Thực chất, chúng ta đang vay nặng lãi để thế hệ con cháu phải gánh chịu món nợ của cha ông. Bạn thu được 1 đồng từ việc xâm hại biển, bạn phải mất hàng nghìn lần như thế để cải thiện lại môi trường. Bộ phim “Mỹ nhân ngư” lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích nhưng lại đem đến một thông điệp rất sâu sắc: "Khi thế giới này chẳng còn đến một giọt nước sạch, một luồng không khí trong lành thì tiền còn nghĩa lý gì?". Tôi có một niềm tin sâu sắc về hiệu ứng cánh bướm, rằng “Một con bướm có thể vỗ cánh trên một bông hoa Trung Quốc và gây ra một cơn bão ở biển Caribbean”. Một hành động dù nhỏ cũng có thể tạo nên sức lan tỏa rộng lớn như những cơn bão. Thay vì kêu cứu, bức xúc hộ biển xanh, biển tự biết cách bức xúc theo cách của mình. Hãy bắt tay ngay vào hành động. Một cây xanh bạn trồng ở đất liền cũng có thể khiến đại dương xa xôi bình yên hơn. Từ chối sử dụng túi nilon khi mua hàng cũng có thể khiến thế giới thoát khỏi thảm cảnh là một biển rác. Hay tiết kiệm một giọt nước ngọt cũng là cách để biển không phải rơi nước mắt, biển quá mặn rồi. Bạn đừng xả rác, lãng phí năng lượng, chặt phá cây xanh rồi sau đó tự hào vì đã gửi vài trăm nghìn đồng hỗ trợ nạn nhân bão lụt. Các công ty đừng xả thải trực tiếp ra môi trường rồi sau đó dành tiền hỗ trợ những nông dân là nạn nhân do hành động của chính họ gây ra.
- 13 Biển sẽ mãi bao bọc chở che con người khi con người biết lỗi và sẵn sàng sửa lỗi. Sau ồn ào biển nhất định dịu êm. Văng vẳng đâu đây một viễn cảnh tươi sáng hơn trong giai điệu bài “Biển hát chiều nay” (nhạc sĩ Hồng Đăng): Qua bao nhiêu thăng trầm mà chiều nay vẫn dịu dàng. Vùi sâu dưới đáy những gì đau thương. Biển lại hát tình ca biển kể chuyện quê hương. (Bài văn của học sinh Trần Thị Thùy Linh, lớp 11A3, trường THPT Lương Thế Vinh Nam Định, 08:55 17/05/2016) Bước 1. Hướng dẫn HS đọc văn bản GV hướng dẫn HS đọc văn bản lần lượt từ đầu đến hết văn bản, chú ý đánh dấu bằng gạch chân hoặc ghi ra lề, giấy dấu những luận điểm, câu văn biểu lộ cảm xúc của người viết trong việc kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường biển (“Hay tiết kiệm một giọt nước ngọt cũng là cách để biển không phải rơi nước mắt, biển quá mặn rồi”, ). GV có thể lưu ý HS đọc diễn cảm những đoạn này để cảm nhận rõ hơn thông điệp mà người viết muốn gửi tới bạn đọc. Bước 2. GV tổ chức các hoạt động học tập, đặt câu hỏi để lần lượt tìm hiểu các thông tin của văn bản mà tác giả muốn chuyển tải tới người đọc, giúp người học rút ra những bài học thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm với bản thân và cộng đồng; từ đó góp phần giải quyết các vấn đề cấp thiết của xã hội, tạo dựng một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn. Câu hỏi: Văn bản trên đặt ra vấn đề gì ? Trả lời: Văn bản trên đặt ra vấn đề cần phải bảo vệ môi trường mà trước hết là môi trường biển. Đó là nhiệm vụ không của riêng ai, riêng quốc gia nào mà là nhiệm vụ của mỗi người, của tất cả các quốc gia và phải hành động ngay từ bây giờ. Câu hỏi: Theo tác giả, tại sao phải cấp bách đặt ra vấn đề bảo vệ môi trường biển ? Trả lời: Theo tác giả, phải cấp bách đặt ra vấn đề bảo vệ môi trường biển vì “Biển như người mẹ cung cấp cho con người rất nhiều thứ, từ nguồn lợi du lịch, khoáng sản, hải sản, giao thông nhưng biển chưa bao giờ đòi hỏi loài người phải trả lại cho biển điều gì cả. Ngược lại, con người đối xử bất công và thực sự vô ơn” và thực tế biển đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Câu hỏi: Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào làm cơ sở khẳng định biển đang bị ô nhiễm cần bảo vệ? Trả lời: Tác giả nêu ra những biểu hiện cụ thể cho thấy biển đang bị ô nhiễm: “Trái Đất nóng lên”, “băng từ hai cực tan ra”, “mực nước biển ngày càng dâng lên”, “nguồn hải sản đang cạn kiệt, nhiều loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng”, “cá chết ở nhiều nơi”, “những mùa đông băng giá hơn, mùa hè nắng nóng hơn, khắc nghiệt hơn”, “mực nước biển dâng lên làm xâm nhập mặn, đất nhiễm phèn, ảnh hưởng cả một nền nông nghiệp. Những cơn bão hay sóng thần thường xuyên hơn dữ dội hơn bao giờ hết, nó cuốn trôi cả con người và mọi thứ trên đường đi của mình”. Câu hỏi: Theo tác giả, nguyên nhân nào dẫn tới việc biển bị ô nhiễm như hiện nay và đề xuất những giải pháp nào để bảo vệ môi trường biển ? Trả lời: - Theo tác giả, biển bị ô nhiễm như hiện nay là “Vì lợi nhuận kinh tế, con người sẵn sàng hủy hoại môi trường biển. Có người vì lợi nhuận nhỏ bán hàng ngay tại bãi biển, các khu du lịch tiếp tay cho du khách xả rác vô điều kiện. Có người vì lợi nhuận lớn hơn thảm sát cá bằng
- 14 các phương tiện hủy diệt. Có người vì lợi nhuận lớn hơn nữa sẵn sàng xả thải trực tiếp các chất hóa học độc hại xuống biển”. - Giải pháp: “Hãy bắt tay ngay vào hành động. Một cây xanh bạn trồng ở đất liền cũng có thể khiến đại dương xa xôi bình yên hơn. Từ chối sử dụng túi nilon khi mua hàng cũng có thể khiến thế giới thoát khỏi thảm cảnh là một biển rác. Hay tiết kiệm một giọt nước ngọt cũng là cách để biển không phải rơi nước mắt, biển quá mặn rồi. Bạn đừng xả rác, lãng phí năng lượng, chặt phá cây xanh rồi sau đó tự hào vì đã gửi vài trăm nghìn đồng hỗ trợ nạn nhân bão lụt. Các công ty đừng xả thải trực tiếp ra môi trường rồi sau đó dành tiền hỗ trợ những nông dân là nạn nhân do hành động của chính họ gây ra”. Câu hỏi: Bài học mà anh/ chị rút ra sau khi đọc văn bản là gì? Trả lời: Qua văn bản, ta thấy một thực tế là con người chính là nguyên nhân khiến biển ô nhiễm. Chính những hành động phá hoại vô ý hoặc cố tình vì lợi ích kinh tế của con người khiến khí hậu biến đổi nói chung và biển bị ô nhiễm ngày càng nặng nề nói riêng. Đó chính là mặt trái của việc phát triển kinh tế trong thời đại mới, nếu các quốc gia không nâng cao ý thức người dân và phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường. Bởi thế, vấn đề cấp bách của toàn nhân loại hiện nay là phải chung tay bảo vệ môi trường, trước hết theo quan điểm bài viết là bảo vệ môi trường biển. Bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất như trồng một cây xanh, không xả rác bừa bãi ra môi trường, không dùng túi bóng, không cho phép bán hàng gần bãi biển, Tuy văn bản không nêu được những số liệu cụ thể như các báo cáo của các tổ chức nghiên cứu về môi trường nhưng rõ ràng, bài viết đã có lập luận rất chặt chẽ, thuyết phục người đọc không chỉ bởi những biểu hiện, nguyên nhân và giải pháp rõ ràng mà còn dễ đi vào lòng người bởi một lối viết nhẹ nhàng, trong sáng với những câu văn liên hệ, ví von rất uyển chuyển, dễ hiểu mà không kém phần sâu sắc như ngay câu mở đầu “Yuri Gagarin, người đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất đã có lần tâm sự: "Sau khi bay vòng quanh Trái Đất trên tàu vũ trụ, tôi thấy hành tinh của chúng ta đẹp biết bao. Các bạn ơi, hãy cùng bảo vệ và làm cho vẻ đẹp này thêm tươi sắc, chứ đừng hủy hoại nó nhé!". Điều này thể hiện sự hợp lí trong tư duy vànăng lực của một HS lớp 11. Vì thế, văn bản cũng đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh mọi người về vấn đề bảo vệ môi trường biển nói riêng, môi trường nói chung sao cho không bị ô nhiễm, cũng là bảo vệ sự sống cho con người. Bước 3. HS làm bài tập vận dụng để củng cố bài học. GV kiểm tra, nhận xét, đánh giá năng lực tiếp nhận thông tin của HS: GV có thể yêu cầu HS vận dụng viết một bài văn nghị luận xã hội bàn về vấn đề bảo vệ môi trường đất đai, khí hậu, GV lưu ý HS đảm bảo cấu trúc bài văn và những vấn đề đặt ra như thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, Nhận xét chung: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu các văn bản nhật dụng, chúng tôi nhận thấy rào cản lớn nhất chính là kĩ năng xã hội và kiến thức thực tế của HS còn có nhiều hạn chế. Kéo theo đó là khó khăn trong cập nhật thông tin, thu thập và xử lí số liệu, giải quyết vấn đề. Và khi đó, việc tìm hiểu vấn đề và ứng dụng vào thực tế của HS sẽ khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn, GV và HS làm việc vất vả mà đôi khi hiệu quả chưa cao. Có lẽ đây cũng là góc khuyết chung của giáo dục hiện nay mà đang và sẽ được khắc phục tốt hơn trong thời gian tới. C. BÀI TẬP VẬN DỤNG 1 . Bài tập BT1. Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
- 15 Vì sao Sơn Đoòng mê hoặc du khách? Huyền bí và mênh mông đủ làm choáng ngợp, vẻ đẹp của Sơn Đoòng được báo chí quốc tế cho rằng xứng đáng với số tiền mà du khách đã bỏ ra khi khám phá nơi đây. Hang Sơn Đoòng dài khoảng 9km, có rừng rậm nhiệt đới và dòng sông. Không gian bên trong hang có thể chứa được... một tòa nhà 40 tầng. Nhưng điều quan trọng mà nhiều người chưa biết đến là việc hình thành hang động Sơn Đoòng không phải theo cách truyền thống - đá vôi bị hoà tan bởi nước mưa, lâu dần theo thời gian hàng triệu năm, nước bào mòn các hoà tan thành hang động vĩ đại. Với "siêu hang động" Sơn Đoòng, câu chuyện ở một hướng khác. Sơn Đoòng nằm trên một đường đứt gãy hướng Bắc - Nam, chính trục đứt gãy này tạo điều kiện cho hang động lớn nhất thế giới này hình thành một cách mạnh mẽ qua dòng chảy không gì cản được của dòng nước lũ và bào mòn thành hang động tuyệt vời mà các nhà khoa học gọi là “Một vũ trụ bị bỏ quên nằm ẩn mình trong một hệ sinh thái độc đáo. Điều này không được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên hành tinh này”. Các nhà khoa học Mỹ ví von, đây như là “chén thánh” đối với các nghiên cứu sinh học, địa mạo trái đất. Người ta cũng phát hiện trong lòng hang Sơn Đoòng có một khu rừng cách mặt đất 400m, "độc nhất vô nhị" trên hành tinh. Bất cứ ai khi đặt chân đến khu rừng này đều trầm trồ bởi đó là tiếng vọng của di sản cổ xưa về rừng rậm sót lại ở dưới mặt đất 400m. Các thân cây tự tiến hoá bằng cách vươn cao, không phát triển đường kính, mà vươn cao để tạo thành cách sống mới với thế giới yếu sáng. (Theo Phan Phương, https: //dulich.dantri.com.vn, Chủ nhật 17/05/2015 - 14:05) Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Xác định phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích? Câu 2. Hãy ghi lại câu văn nêu chủ đề của đoạn trích trên? Câu 3. Theo tác giả, “điều quan trọng mà nhiều người chưa biết đến ” của hang Sơn Đoòng là gì? Câu 4. Từ nội dung của đoạn trích trên, anh/ chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 7 – 10 câu) bày tỏ suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với các danh thắng thiên nhiên của đất nước. BT2. Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu nêu bên dưới: Thuốc lá sẽ giết một tỷ người trong thế kỷ 21 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vừa công bố báo cáo về đại dịch thuốc lá toàn cầu. Theo đó, tăng thuế thuốc lá là biện pháp hiệu quả nhất để giảm sử dụng, giảm tử vong do thuốc lá và là biện pháp có chi phí hiệu quả cao để thực hiện. Trong đó, thuế thuốc lá bằng ít nhất 75% giá bán lẻ có hiệu quả cao nhất. Ví dụ, tăng thuế thuốc lá ở Brazil đóng góp gần một nửa cho việc giảm 46% tỷ lệ sử dụng thuốc lá từ 1989 đến 2010. Tăng thuế thuốc lá là một giải pháp cùng thắng cho Chính phủ bởi nó gia tăng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy rằng bất chấp việc tăng thuế thuốc lá đem lại những tác động hiệu quả tới sức khỏe, rất nhiều quốc gia vẫn có mức thuế thấp, và một số quốc gia không đánh thuế thuốc lá. Tăng thuế thuốc lá là một trong những biện pháp kiểm soát thuốc lá ít được thực hiện nhất, với chỉ 10% dân số thế giới sống ở các quốc gia có thuế thuốc lá vừa đủ. Trong số những
- 16 chính sách được thảo luận trong báo cáo này, tăng thuế thuốc lá là giải pháp có ít sự cải thiện nhất kể từ khi WHO bắt dầu đánh giá sự tiến bộ. Theo WHO, sử dụng thuốc lá đã giết chết 100 triệu người trong thế kỷ 20, và sẽ giết một tỷ người trong thế kỷ 21 nếu các xu hướng hiện nay không được đảo ngược. Vì thế, báo cáo này kêu gọi Chính phủ các nước cần hành động để giảm sử dụng thuốc lá bằng cách thực hiện các chính sách đã được chứng minh là hiệu quả. Tại Việt Nam, từ 1/1/2016, thuế thuốc lá sẽ được điều chỉnh từ 65% lên 70%, sau đó tăng theo lộ trình lên 75%. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nếu tăng 5% như dự thảo thì giá bán lẻ tăng không đáng kể, không theo kịp mức tăng thu nhập bình quân 4,8% một năm. Vì thế, sức mua thuốc lá vẫn tăng. Tỷ lệ nam giới hút thuốc lá hầu như không thay đổi và có lẽ giữ nguyên ở con số như hiện tại. Hiện 47% nam giới trưởng thành ở Việt Nam hút thuốc lá. Khói thuốc lá chứa hơn 7.000 hóa chất, trong đó có 70 chất gây ung thư. Sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh như ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim mạch... Hút thuốc là nguyên nhân của 90% các ca ung thư phổi, 75% các ca bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, 25% ca bệnh tim thiếu máu cục bộ. (Phương Trang, Chủ nhật, 12/7/2015, 13:30) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên? Nội dung chính của văn bản là gì? Câu 2. Văn bản đã nêu ra những con số nào chứng tỏ tác hại của thuốc lá đối với loài người trên toàn thế giới? Câu 3. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), giải pháp nào được đưa ra để giảm thiểu số người hút thuốc lá? Giải pháp này có đem lại hiệu quả tại Việt Nam hay không? Vì sao? Câu 4. Nếu anh/ chị có bạn bè hoặc người thân hút thuốc lá, anh/ chị sẽ làm gì để thay đổi họ? BT3. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới: Báo cáo kết quả nghiên cứu “Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) vừa được công bố tại Hà Nội sáng 7/3. Nghiên cứu đã khảo sát định lượng và định tính đối với gần 8.500 người cả nam và nữ tại 11 tỉnh, thành phố suốt từ năm 2012 đến 2015. Kết quả đã khiến nhiều người ngỡ ngàng vì phụ nữ chân yếu tay mềm lại quá “siêu nhân” khi gánh phần lớn công việc trong gia đình, còn đàn ông thì chỉ biết mỗi làm trụ cột. Thậm chí cả việc đồng áng, chăn nuôi cũng do phụ nữ làm là chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng, phụ nữ tham gia hầu hết các công đoạn sản xuất nông nghiệp: làm đất, gieo cấy, bón phân, làm cỏ, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch, tưới, trông nom, bán thành phẩm và quản lý thu chi. Nam giới chỉ làm nhiều nhất hai việc là làm đất và phun thuốc trừ sâu. Còn trong chăn nuôi, đánh bắt thuỷ sản, phụ nữ cũng tham gia hầu hết các đầu việc còn nam giới rất lựa chọn. Đặc biệt, có sự “vênh” lớn giữa phân công việc nhà. Có tới 97% phụ nữ và 90% đàn ông cho biết, nam giới trong gia đình họ chỉ tham gia từ 0-2 việc trong số 11 việc được liệt kê (đi chợ, rửa bát, nấu ăn, giặt quần áo, dọn dẹp, chăm sóc người ốm, việc hiếu hỉ, đưa đón con...). 90,9% nữ và 78,6% nam cho biết phụ nữ làm ít nhất 5 đầu việc trở lên. Tỷ lệ này tương tự ở nông thôn khi cho rằng 97% nữ và 89,5% nam cho rằng nam giới chỉ làm từ 0-2 việc trong gia đình. “Không ít đàn ông thừa nhận họ không làm việc nhà nào cả. Khi chúng tôi ngạc nhiên hỏi: “Thế anh làm gì trong gia đình”, có người ngượng nghịu nói bận rộn, đi làm kiếm tiền. Còn có anh rất hồn nhiên bảo: “Tôi làm trụ cột”, TS Khuất Thu Hồng, Viện trưởng ISDS chia sẻ tại buổi công bố báo cáo.
- 17 Bản báo cáo chỉ ra rằng phụ nữ ở Việt Nam vẫn phải đối mặt với rất nhiều rào cản cả trong sự nghiệp, trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Xã hội vẫn mặc nhiên coi rằng việc chăm sóc và hỗ trợ chồng con và các thành viên của hai bên gia đình nội ngoại là trách nhiệm hoàn toàn của người phụ nữ. “Chị em thường dễ chấp nhận không đi làm hoặc làm các công việc có thu nhập thấp để có thời gian chăm sóc chồng con. Phụ nữ cũng không được khuyến khích học cao hơn chồng để tránh xung đột trong gia đình, thậm chí họ cũng phải âm thầm chịu đựng bạo lực gia đình để duy trì sự êm ấm trong nhà. Thực tế đó đã hạn chế cơ hội của họ trong học tập, theo đuổi sự nghiệp, tham gia các hoạt động xã hội và chính trường”, bà Hồng chia sẻ. ( Kim Minh, Đề xuất phong trào “cứu lấy đàn ông Việt Nam”, 08/03/2016) Câu 1. Cho biết các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích? Câu 2. Theo tác giả, nghiên cứu về bất bình đẳng giới do ISDS thực hiện ở đâu? Trong thời gian nào? Câu 3. Theo ISDS, hiện nay, trong gia đình, người phụ nữ phải chịu bất bình đẳng như thế nào? Câu 4. Dựa vào nội dung đoạn trích, hãy cho biết, vì sao cơ hội học tập, theo đuổi sự nghiệp và hoạt động xã hội của người phụ nữ bị hạn chế? Từ đó, anh/ chị có thể đưa ra ít nhất một giải pháp để góp phần khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay? 2. Hướng dẫn trả lời BT1: Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí/ phong cách ngôn ngữ khoa học/ phong cách ngôn ngữ báo chí kết hợp phong cách ngôn ngữ khoa học. Phương thức biểu đạt chủ yếu được sử dụng trong đoạn trích là thuyết minh. Câu 2. Câu văn nêu chủ đề của đoạn trích: “Huyền bí và mênh mông đủ làm choáng ngợp, vẻ đẹp của Sơn Đoòng được báo chí quốc tế cho rằng xứng đáng với số tiền mà du khách đã bỏ ra khi khám phá nơi đây”. Câu 3. Theo tác giả, “điều quan trọng mà nhiều người chưa biết đến ” của hang Sơn Đoòng là “việc hình thành hang động Sơn Đoòng không phải theo cách truyền thống” theo kiểu “đá vôi bị hoà tan bởi nước mưa, lâu dần theo thời gian hàng triệu năm, nước bào mòn các hoà tan thành hang động vĩ đại” mà “Sơn Đoòng nằm trên một đường đứt gãy hướng Bắc - Nam, chính trục đứt gãy này tạo điều kiện cho hang động lớn nhất thế giới này hình thành một cách mạnh mẽ qua dòng chảy không gì cản được của dòng nước lũ và bào mòn thành hang động tuyệt vời mà các nhà khoa học gọi là “Một vũ trụ bị bỏ quên nằm ẩn mình trong một hệ sinh thái độc đáo. Điều này không được tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên hành tinh này”. Cùng với đó, người ta cũng phát hiện trong lòng hang Sơn Đoòng có một khu rừng cách mặt đất 400m, "độc nhất vô nhị" trên hành tinh. Bất cứ ai khi đặt chân đến khu rừng này đều trầm trồ bởi đó là tiếng vọng của di sản cổ xưa về rừng rậm sót lại ở dưới mặt đất 400m. Các thân cây tự tiến hoá bằng cách vươn cao, không phát triển đường kính, mà vươn cao để tạo thành cách sống mới với thế giới yếu sáng”. Câu 4. - Yêu cầu: HS viết có thể có những cảm xúc và suy nghĩ khác nhau nhưng cần nêu bật được cảm xúc yêu mến, tự hào; nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát huy những vẻ đẹp của hang Sơn Đoòng nói riêng, của tất cả những cảnh quan thiên nhiên của đất nước nói chung; từ đó có thể đề xuất những giải pháp, hành động thiết thực để
- 18 bảo vệ cũng như quảng bá các di sản thiên nhiên của đất nước. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh phát triển du lịch luôn phải đi đôi với bảo vệ, giữ nguyên hiện trạng các khu cảnh quan thiên nhiên bởi đó không chỉ là những nơi có ý nghĩa về mặt du lịch sinh thái để phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt môi trường, cân bằng sinh học của nhiều chủng, loài, trong đó có con người. BT2: Câu 1. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ: báo chí. Nội dung chính của văn bản là: Văn bản viết về đề tài thuốc lá, trong đó tập trung vào hai nội dung chính là giải pháp tăng thuế thuốc lá theo WHO và tác hại của thuốc lá trên thế giới và Việt Nam. Câu 2. Văn bản đã nêu ra những con số chứng tỏ tác hại của thuốc lá đối với loài người trên toàn thế giới: - “Sử dụng thuốc lá đã giết chết 100 triệu người trong thế kỷ 20, và sẽ giết một tỷ người trong thế kỷ 21 nếu các xu hướng hiện nay không được đảo ngược”. - “Hiện 47% nam giới trưởng thành Việt Nam hút thuốc lá”. - “Khói thuốc lá chứa hơn 7.000 hóa chất, trong đó có 70 chất gây ung thư. Sử dụng thuốc lá gây ra 25 loại bệnh như ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim mạch... Hút thuốc là nguyên nhân của 90% các ca ung thư phổi, 75% các ca bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, 25% ca bệnh tim thiếu máu cục bộ”. Câu 3: - Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), giải pháp được đưa ra để giảm thiểu số người hút thuốc lá là: tăng thuế thuốc lá là biện pháp hiệu quả nhất để giảm sử dụng, giảm tử vong do thuốc lá và là biện pháp có chi phí hiệu quả cao để thực hiện. Trong đó, thuế thuốc lá bằng ít nhất 75% giá bán lẻ có hiệu quả cao nhất. Tăng thuế thuốc lá còn là một giải pháp cùng thắng cho Chính phủ bởi nó gia tăng ngân sách nhà nước. - Giải pháp này chưa đem lại hiệu quả tại Việt Nam vì: “Tại Việt Nam, từ 1/1/2016, thuế thuốc lá sẽ được điều chỉnh từ 65% lên 70%, sau đó tăng theo lộ trình lên 75%. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nếu tăng 5% như dự thảo thì giá bán lẻ tăng không đáng kể, không theo kịp mức tăng thu nhập bình quân 4,8% một năm. Vì thế, sức mua thuốc lá vẫn tăng. Tỷ lệ nam giới hút thuốc lá hầu như không thay đổi và có lẽ giữ nguyên ở con số như hiện tại ( 47% nam giới trưởng thành Việt Nam hút thuốc lá). Câu 4. Cần đưa ra một số giải pháp giúp người nghiện thuốc lá bằng việc: - Thay đổi về nhận thức bằng việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, hiểu biết cho người thân về tác hại của thuốc lá; gặp gỡ người nghiện thuốc lá tuyên truyền, vận động họ từ bỏ việc hút thuốc, cần thiết thì vận động, giúp đỡ họ gặp bác sĩ trực tiếp tư vấn, trao đổi, hỗ trợ về kiến thức y học, thuốc, liệu trình cụ thể, - Thay đổi về thái độ: Cần có ý chí, nghị lực và quyết tâm bỏ hút thuốc lá đến cùng; không trì hoãn mà phải bắt đầu ngay việc từ bỏ hút thuốc lá, - Thay đổi về hành động: Lên kế hoạch và ngừng hút thuốc lá bằng tất cả các phương pháp, quyết tâm cao nhất; tích cực tham gia các hoạt động thể thao, giải trí lành mạnh . BT3: Câu 1. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: nghị luận, thuyết minh.
- 19 Câu 2. Theo tác giả, nghiên cứu về bất bình đẳng giới do viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) thực hiện đã khảo sát định lượng và định tính đối với gần 8.500 người cả nam và nữ tại 11 tỉnh, thành phố suốt từ năm 2012 đến 2015. Như vậy, kết quả thu được sẽ phản ánh trung thực tình hình bất bình đẳng giới trên phạm vi toàn quốc. Câu 3. Theo ISDS, hiện nay, trong gia đình, người phụ nữ phải chịu bất bình đẳng: “gánh phần lớn công việc trong gia đình, còn đàn ông thì chỉ biết mỗi làm trụ cột. Thậm chí cả việc đồng áng, chăn nuôi cũng do phụ nữ làm là chính. Nghiên cứu chỉ ra rằng, phụ nữ tham gia hầu hết các công đoạn sản xuất nông nghiệp: làm đất, gieo cấy, bón phân, làm cỏ, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch, tưới, trông nom, bán thành phẩm và quản lý thu chi. Nam giới chỉ làm nhiều nhất hai việc là làm đất và phun thuốc trừ sâu. Còn trong chăn nuôi, đánh bắt thuỷ sản, phụ nữ cũng tham gia hầu hết các đầu việc còn nam giới rất lựa chọn. Đặc biệt, có sự “vênh” lớn giữa phân công việc nhà. Có tới 97% phụ nữ và 90% đàn ông cho biết, nam giới trong gia đình họ chỉ tham gia từ 0-2 việc trong số 11 việc được liệt kê (đi chợ, rửa bát, nấu ăn, giặt quần áo, dọn dẹp, chăm sóc người ốm, việc hiếu hỉ, đưa đón con...). 90,9% nữ và 78,6% nam cho biết phụ nữ làm ít nhất 5 đầu việc trở lên”. Cùng với đó, “Phụ nữ cũng không được khuyến khích học cao hơn chồng để tránh xung đột trong gia đình, thậm chí họ cũng phải âm thầm chịu đựng bạo lực gia đình để duy trì sự êm ấm trong nhà”. Câu 4. Có hai nguyên nhân chính khiến cơ hội học tập, theo đuổi sự nghiệp và hoạt động xã hội của người phụ nữ bị hạn chế: - Do quan niệm truyền thống của cả xã hội về phân công lao động, mặc nhiên coi trách nhiệm của người phụ nữ là phải gánh vác phần lớn công việc nội trợ trong gia đình. - Do chính người phụ nữ vốn bị ảnh hưởng bởi tâm lí và nhận thức truyền thống mà chấp nhận hi sinh, chấp nhận làm việc nhà hay công việc ít lương hơn, chấp nhận chịu đựng bạo hành vì sự yên ấm trong gia đình, chấp nhận không học cao,... Từ đó, có thể đưa ra ít nhất một trong số những giải pháp sau để góp phần khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay: - Sự sẻ chia, bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới không chỉ là ngọn nguồn của hạnh phúc gia đình mà còn là động lực để sản sinh và nuôi dưỡng thế hệ trẻ, tạo ra những công dân tốt có đầy đủ phẩm chất và tài năng góp sức cho sự phát triển của xã hội. - Bình đẳng giới trong gia đình chỉ có thể đạt được khi bản thân người phụ nữ luôn có ý thức vươn lên học hỏi và tự khẳng định mình. Đồng thời, người đàn ông cũng phải có ý thức chia sẻ, hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho người phụ nữ phát triển. - Để chấm dứt tình trạng bất bình đẳng giới trong gia đình, điều thiết yếu quan trọng là phải nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền về giới trên diện rộng không chỉ với phụ nữ mà còn với nam giới. Công tác giáo dục về giới cần phải được tăng cường đẩy mạnh trong nội dung đòa tạo đối với các đối tượng thanh thiếu niên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, giúp các em có sự hiểu biết, ý thức và trách nhiệm về giới trong việc xây dựng cuộc sống gia đình sau này. - Việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình cũng nên được xây dựng thành một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu để công nhận gia đình văn hóa, khu phố văn hóa, làng văn hóa,... Tóm lại, chống bất bình đẳng giới không chỉ là vấn đề của từng gia đình mà còn cần sự chung tay vào cuộc của toàn xã hội, tất cả vì mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
- 20 XÂY DỰNG CÂU HỎI MÔN TOÁN THI TỐT NGHIỆP THPT TỪ 2025 I. DẠNG THỨC TN NHIỀU LỰA CHỌN Câu 1. Cho Fx là một nguyên hàm của hàm số fx trên 1;2 . Mệnh đề nào sau đây đúng? 2 2 A. f( x ) dx F (2) F (1). B. f( x ) dx F (2) F (1). 1 1 2 2 C. f( x ) dx F (1) F (2). D. f( x ) dx f (2) f (1). 1 1 Câu 2. Công thức tính thể tích V của khối tròn xoay được tạo ra khi quay hình thang cong giới hạn bởi đồ thị hàm số y f x trục Ox và hai đường thẳng x a, x b () a b xung quanh trụcOx là b b A. V f(). x dx B. V f2 (). x dx a a b b C. V f2 (). x dx D. V f(). x dx a a Câu 3. Trong không gian Oxyz , mặt phẳng (Q) đi qua điểm M 0; 2;3 và nhận n 2;1; 4 làm vectơ pháp tuyến có phương trình tổng quát là A. Q : 2 y 3 z 14 0. B. Q :2 x y 4 z 14 0 . C. Q :2 x y 4 z 14 0. D. Q : 2 y 3 z 14 0. II. DẠNG THỨC TRẮC NGHIỆM ĐÚNG/SAI 3 Câu 1: Để tính đạo hàm của hàm số yx tại điểm x0 1 bằng định nghĩa, bạn An thực hiện các bước như sau: Bước 1. Tập xác định của hàm số là D và x0 1. 3 Tại điểm x0 1, ta có y y0 x 1 Bước 2. Với x 1, ta có yy x32 1 ( x 1)( x x 1) 0 xx2 1. x x0 x 11 x yy Bước 3. lim0 lim(xx2 1) 3. xx 11 xx 0 Bước 4. Vậy y (3) 1. Bạn An đã làm sai bước nào dưới đây? A. Bước 1. B. Bước 4. C. Bước 2. D. Bước 3. Lời giải. Bước 1. Tập xác định của hàm số là và 3 Tại điểm ta có y y0 x 1.

