Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tich_hop_giao_duc_truyen_thong_hieu_hoc_cua_que_huong_bac_gi.pdf
Nội dung tài liệu: Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hằng Môn giảng dạy: Ngữ Văn Chức vụ: Giáo viên Bắc Giang, tháng 03 năm 2025 1
- PHỤ LỤC II CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải” 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : 06/9/2024 3. Các thông tin cần bảo mật: Các giải pháp, hình ảnh minh chứ ng. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Ngữ Văn là một trong những môn học bắt buộc và quan trọng. Nhưng trên thực tế thì hiện nay tại các trường học, việc giảng dạy môn Ngữ Văn vẫn chủ yếu theo kiểu truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức, phát triển năng lực mà chưa có sự tích hợp liên môn hoặc có nhưng còn chưa gắn với thực tiễn môi trường học tập, rèn luyện của học sinh – nơi học sinh đang theo học. Học sinh thường chỉ bị động tiếp thu kiến thức, học theo kiểu giáo viên đọc chép. Hoặc “học vẹt” theo kiểu nhồi nhét, học thuộc chứ không hiểu bản chất của bài. Cách dạy này thường gặp nhiều vấn đề, khiến cho hiệu quả học của môn học không cao và học sinh chưa thực sự hứng thú và có động lực học tập. Từ đó dẫn đến niềm say mê văn chương bị giảm sút, học sinh chưa có cái nhìn sâu sắc về những điều xảy ra xung quanh mình, liên quan trực tiếp đến mình. Vẫn biết Ngữ Văn là một môn học cơ bản, có vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức cũng như hình thành nhân cách cho học sinh nên việc dạy và học môn Ngữ Văn trong nhà trường nói chung và trường THPT Giáp Hải nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng bộ, Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Từ khi được thành lập, Đảng bộ, Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên trường THPT Giáp Hải luôn thường xuyên tạo điều kiện cho tổ Ngữ Văn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, nhiều hoạt động trải nghiệm thực tế đến thăm và tìm hiểu về các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để giáo dục truyền thống quê hương cho học sinh nhà trường. Với những ưu điểm như vậy nên việc dạy và học môn Ngữ Văn tại trường THPT Giáp Hải cũng có nhiều thuận lợi. 2
- Song, bên cạnh những ưu điểm đó cũng không thể không nhắc tới những hạn chế trong việc dạy và học bộ môn. Về phía học sinh, đây có lẽ là vấn đề gặp nhiều khó khăn hơn cả. Riêng đối với việc tìm hiểu đề tài này tôi còn nhận thấy, nhiều học sinh còn chưa biết hết, hiểu hết hoặc thậm chí còn chưa tìm hiểu về truyền thống hiếu học của địa phương, của nhà trường – ngôi trường mang tên trạng nguyên Giáp Hải. Kết quả khảo sát học sinh khi chưa tích hợp đề tài này vào thực tế giảng dạy như sau: Số HS chưa tìm Số HS tìm hiểu Số HS đã tìm hiểu L S hiểu về truyền một phần về truyền rõ về truyền thống ớp ĩ số thống hiếu học Bắc thống hiếu học Bắc hiếu học Bắc Giang Giang Giang SL % SL % SL % 1 4 9 20% 32 71,1% 4 8,9% 0A5 5 1 4 6 14% 34 79,1 3 6,9% 0A8 3 Với kết quả trên có thể thấy rằng việc tích hợp giáo dục cho học sinh về truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang trong bộ môn Ngữ Văn là rất cần thiết. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Việt Nam là một dân tộc có truyền thống hiếu học. Tinh thần hiếu học của nhân dân ta vô cùng đáng quý, đáng trân trọng. Tinh thần ấy của người Việt Nam được hình thành từ lâu đời và đã trở thành một truyền thống tốt đẹp. Người Việt nhận thức được rằng học hành không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Trên bia tiến sĩ năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba tại Văn Miếu Quốc Tử Giám có ghi: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Bởi thế cho nên các bậc thánh đế, minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyên khí của quốc gia. Nhờ có tinh thần hiếu học mà nhân dân ta luôn có ý thức chính trị, có trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ đạo đức. Trải qua lịch sử dựng nước và giữ nước, hiếu học trở thành truyền thống, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn luôn được nhân dân ta giữ gìn, đề cao và tôn trọng. Bắc Giang trong lịch sử vốn là miền đất của Châu Lạng, một trong miền đất thuộc “tứ trấn” của Thăng Long (Hà Nội) xưa. Bằng những số liệu và những con người có thực được bia đá, sử xanh ghi lại đã chứng minh vùng đất Bắc Giang có một truyền thống hiếu học và khoa bảng rạng rỡ. Trong điều kiện của một vùng khó khăn 3
- song Bắc Giang cũng đã có được 60 vị đỗ đại khoa, đạt học vị Tiến sĩ thời phong kiến. Các vị đỗ đạt cao, có tên trong lịch sử được khắc tên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám; ở Văn Miếu Bắc Ninh; ở các văn chỉ làng xã và được lưu danh trong nhiều nguồn sử liệu khác. Tại đây đã có nhiều làng quê được vinh danh là “Văn vật danh hương”, “Văn vật sở đô”. Sự hiếu học, đức độ của người xưa không chỉ là bài học quý cho thế hệ trẻ ngày nay, mà truyền thống đó như một di sản quý báu của dân tộc, được lưu truyền muôn đời. Nối tiếp truyền thống hiếu học của cha ông, Trường THPT Giáp Hải vô cùng vinh dự khi được mang tên trạng nguyên Giáp Hải – một nhà văn hóa lớn thời Mạc và cũng là nhà văn hóa lớn thế kỷ XVI trong lịch sử nước ta. Ông là một danh nhân khoa bảng tiêu biểu của cả nước được nhiều người biết đến. Việc có một ngôi trường mang tên trạng nguyên Giáp Hải càng chứng tỏ truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang. Do vậy, việc giáo dục cho học sinh trường THPT Giáp Hải về truyền thống hiếu học của dân tộc, của quê hương, của ngôi trường là một trong những vấn đề đáng quan tâm. Giải pháp “Tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang vào bài học Ngữ Văn cho học sinh THPT Giáp Hải” này được thai nghén trong một nhu cầu bức thiết như vậy. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Nghiên cứ u đề tài này taọ điề u kiêṇ và cơ hôị cho bản thân tôi đươc̣ tư ̣ tìm hiểu, trang bị những kiế n thứ c về truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang, của ngôi trường tôi đang công tác. Đồng thời đây cũng là cơ hội để tôi được nâng cao năng lưc̣ hoc̣ hỏi, trau dồ i kinh nghiêṃ về tích hợp liên môn trong công tác giảng dạy. Đối với học sinh, đây cũng là cơ hội để các em có những hiểu biết về truyền thống quê hương, về ngôi trường mang tên trạng nguyên Giáp Hải, để bồi đắp thêm ở các em tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương, mái trường, thầy cô và bạn bè. Và cũng để các em nhận thức được truyền thống hiếu học, từ đó cố gắng nỗ lực học tập noi gương các thế hệ cha ông. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Biện pháp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang cho học sinh THPT Giáp Hải nói chung Có một vấn đề đặt ra là làm thế nào để khơi dậy truyền thống hiếu học của cha ông ta cho học sinh trường THPT Giáp Hải, để các em thực sự là một lực lượng tiên phong trên con đường tiếp thu và sáng tạo tri thức, tạo nên một đội ngũ trí thức trong tương lai góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa? Dưới nhu cầu bức thiết đó, tôi xin đưa ra một số giải pháp bước đầu như sau: 4
- Giải pháp 1: cần nâng cao nhận thức của học sinh về tinh thần hiếu học của dân tộc, của quê hương, cũng như của nhà trường. Đây là một vấn đề đáng quan tâm khi hiện nay thực trạng học sinh lười học, thụ động, ngại học hỏi, tìm tòi những tri thức, những truyền thống văn hóa quê hương là không hiếm. Hơn thế nữa, trường THPT Giáp Hải cũng là một ngôi trường non trẻ vừa bước qua những năm đầu của tuổi thứ mười. Nên việc giáo dục truyền thống hiếu học quê hương cho học sinh của một ngôi trường mang tên một danh nhân khoa bảng nổi tiếng trong dịp lễ trọng đại này lại càng trở nên có ý nghĩa hơn. Và chính giáo viên Ngữ Văn được coi là một phát ngôn viên, một hướng dẫn viên truyền cảm hứng tới học sinh truyền thống tốt đẹp đó. Bởi lẽ trong chương trình Ngữ Văn THPT có không ít những tác phẩm văn học giáo dục truyền thống hiếu học của dân tộc nói chung, của quê hương Bắc Giang nói riêng. Đặc biệt với tâm thế của ngôi trường mang tên trạng nguyên Giáp Hải, tinh thần hiếu học lại càng trở thành một tư tưởng mà mỗi học sinh Giáp Hải cần quan tâm và phát huy. Giải pháp 2: cần phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường trong việc giáo dục truyền thống hiếu học cho học sinh. Các tổ chức, đoàn thể trong trường có vai trò quyết định trực tiếp đến việc giáo dục truyền thống tốt đẹp này. Vì vậy, cần phải phát huy vai trò của các tổ chức Đảng, Ban Giám hiệu, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Các câu lạc bộ như Câu lạc bộ Sách và Hành động trong việc kế thừa giáo dục truyền thống hiếu học nhằm xây dựng lối sống tốt đẹp cho học sinh nhà trường. Để phát huy được vai trò đó, nhà trường cũng như Đoàn Thanh niên cần tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động giáo dục truyền thống nhà trường. Đa dạng hóa các hoạt động tìm hiểu như tổ chức các cuộc thi, các hoạt động ngoại khóa nhằm giúp học sinh nâng cao hiểu biết về truyền thống khoa bảng của dân tộc, của tỉnh nhà và đặc biệt là của nhà trường. Trong dịp kỉ niệm 10 năm thành lập trường THPT Giáp Hải, được sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám hiệu, Đoàn Thanh niên nhà trường đã tổ chức cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu lịch sử, truyền thống trường THPT Giáp Hải” trong thời gian từ ngày 06/12/2021 đến ngày 18/12/2021. Cuộc thi đã thu hút đông đảo các đoàn viên thanh niên đến từ 30 chi đoàn trong nhà trường tham dự, thổi bùng lên ý thức tìm hiểu truyền thống, lịch sử nhà trường. Từ đó tạo cảm hứng để các em có điều kiện khám phá truyền thống lịch sử của quê hương Bắc Giang. Giải pháp 3: cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên dương, khen thưởng, tuyên truyền, giới thiệu về gương người tốt, việc tốt và những tấm gương vượt khó trong học tập. Mặc dù thời gian thành lập không dài và học sinh đầu vào của trường có chất lượng thấp hơn so với các trường THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Giang, nhiều học 5
- sinh thi vào trường ở nguyện vọng 2, nhưng trường THPT Giáp Hải cũng đã bước đầu gặt hái được những “trái ngọt đầu mùa”. Đó là chất lượng giáo dục mũi nhọn, thi học sinh giỏi văn hóa, thi sáng tạo khoa học kĩ thuật, thí nghiệm thực hành,... Đặc biệt nhiều năm liền học sinh nhà trường đạt giải học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh các môn như Ngữ Văn, Lịch sử, Giáo dục kinh tế pháp luật,... Với các môn Khoa học tự nhiên, thế mạnh của học sinh nhà trường nằm ở sự sáng tạo, vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Các cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các tình huống thực tiễn, sáng tạo thanh thiếu niên, thi sáng tạo trẻ, sáng tạo khoa học kĩ thuật nhà trường đều có các đội học sinh tham gia và đạt giải cao nhiều năm liền. Do vậy việc tuyên dương, khen thưởng, nêu gương người tốt việc tốt, những tấm gương vượt khó trong học tập là vô cùng cần thiết để các em học sinh khóa sau có thể tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học của nhà trường và các anh chị khóa trên. Tóm lại, yếu tố quan trọng của biện pháp thứ ba này là cần chú trọng tôn vinh các giá trị tiêu biểu, phát hiện ra nhân tố mới, điển hình để tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, đấu tranh, phê phán những thói xấu trong học tập xa lạ với truyền thống hiếu học tốt đẹp của dân tộc, của quê hương. Giải pháp 4: cần kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục truyền thống hiếu học quê hương cho học sinh. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng và vun đắp các giá trị văn hóa và xã hội cho mỗi cá nhân từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy, cần phải xây dựng được lối sống gia đình văn hóa. Để làm được điều này, các bậc ông bà, cha mẹ cần quan tâm giáo dục các thành viên trong gia đình từ nhỏ phải có ý thức tôn trọng và tiếp thu các giá trị truyền thống văn hóa quê hương, đồng thời bản thân họ phải là những tấm gương sáng trong việc giữ gìn, giáo dục tinh thần hiếu học cho con cháu. Cùng với gia đình, nhà trường là môi trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục học sinh. Giáo dục nhà trường là con đường chủ yếu để hình thành thế giới quan, nhân sinh quan của học sinh, giúp học sinh nhận biết và ý thức sâu sắc về những giá trị chân chính của cuộc sống. Qua đó, giáo dục nhà trường bồi đắp tình cảm, niềm tin, tri thức cho học sinh giúp các em tu dưỡng rèn luyện để vững bước trong tương lai. Môi trường xã hội cũng là một nhân tố có tác động không nhỏ đến việc giáo dục truyền thống hiếu học cho học sinh. Do vậy, cần xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh trong toàn xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân, trong đó có học sinh. Qua đó, biểu dương, tôn vinh các gia đình văn hóa, các cá nhân, tổ chức vươn lên trong học tập và cả trong lao động. 6
- “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Quả đúng như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, mỗi con người, mỗi dân tộc luôn cần phải biết lịch sử, truyền thống của dân tộc mình. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hình thành nên những truyền thống tốt đẹp. Trong đó truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo là một trong những giá trị tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Việc giáo dục truyền thống hiếu học giúp cho học sinh có một lượng tri thức, sự hiểu biết nhất định về quê hương là một việc làm thật có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. 7.1.2. Biện pháp tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang cho học sinh THPT Giáp Hải vào bài học Ngữ Văn “Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội”. Với vai trò là một giáo viên Ngữ Văn việc giáo dục truyền thống hiếu học của tỉnh nhà cho học sinh là một việc làm cần thiết. Bởi Ngữ Văn là bộ môn đặc thù giúp học sinh hình thành nhân cách, phẩm chất và những thái độ sống tốt đẹp khi “Văn học là nhân học”. Để giúp giáo dục truyền thống hiếu học cho học sinh trường THPT Giáp Hải, tôi xin đề xuất cách làm cụ thể thông qua việc tích hợp nội dung này vào việc học tập môn Ngữ Văn trong nhà trường. Từ đó giới thiệu, giáo dục truyền thống nhà trường qua tấm gương của trạng nguyên Giáp Hải. Đây là một hướng đi cần thiết để tạo nên cầu nối quan trọng, góp phần rèn luyện kỹ năng tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề của địa phương, khơi dậy cho học sinh nhiều hứng thú trong học tập môn Ngữ Văn. Để triển khai giải pháp này, tôi đã xây dựng một dự án dạy học cho học sinh. Tôi xin phép trình bày dự án dạy học của mình như sau: 1. Về phía giáo viên Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh tạo ra sản phẩm học tập, bổ sung, đánh giá sản phẩm mà học sinh đã tìm hiểu được. Giáo viên có nhiệm vụ thực hiện các bước sau: a. Bước 1: Xác định vấn đề Trước hết, giáo viên phải là người nhận ra được bối cảnh môi trường địa phương, đặt ra những vấn đề bức thiết cần quan tâm, tìm hiểu. Đặc biệt chú ý bối cảnh tác động đến học sinh trong môi trường văn hóa, xã hội, lịch sử, kinh tế địa phương mà học sinh đang học tập, sinh sống. Ở đây giáo viên sẽ định hướng cho học sinh vấn đề cần tìm hiểu đó là Truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang. b. Bước 2. Xác định nội dung kiến thức Giáo viên sẽ là người nghiên cứu, tìm hiểu trong chương trình Ngữ Văn THPT những bài dạy có nội dung liên quan đến vấn đề được đặt ra ở trên. Cụ thể: 7
- - Ở chương trình Ngữ văn lớp 10, có: + Các bài học rèn luyện kĩ năng viết / nói và nghe như: Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội, Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau + Các bài học hướng tới nhận thức, tìm tòi và khám phá như: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân Trung), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) Đó là những kiến thức bài học có thể vận dụng để kết nối với vấn đề văn hóa, xã hội, lịch sử, giáo dục truyền thống của quê hương, giúp học sinh có cơ hội thể hiện suy nghĩ, quan điểm, bộc lộ những nhận thức và sáng tạo của bản thân. Giáo viên cũng cần là người đề xuất, định hướng cho học sinh các biện pháp thực hiện. Về nhiệm vụ của học sinh, giáo viên yêu cầu học sinh tìm tòi, khám phá những tri thức về truyền thống hiếu học của địa phương; tạo ra được những sản phẩm học tập để giới thiệu, trình bày. Giáo viên cũng có thể cung cấp những tri thức bổ trợ hoặc là cố vấn giúp học sinh giải quyết những nhiệm vụ khó khăn. c. Bước 3. Thiết lập dự án (sao cho phù hợp với nội dung, trình độ nhận thức, khả năng thực hiện của học sinh). - Xác định các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, năng lực và phẩm chất. - Xác định các phương pháp dạy học được sử dụng. - Xác định đối tượng học sinh thực hiện. - Đề ra các loại sản phẩm cần thực hiện gắn với yêu cầu thực tiễn của địa phương nơi học sinh đang sinh sống. - Dự kiến tiến trình thực hiện. d. Bước 4. Triển khai dự án - Giáo viên chia nhóm và giao sản phẩm cho từng nhóm. Sản phẩm nhóm phù hợp với đối tượng học sinh, có sự phân hóa theo năng lực, theo đặc điểm vùng miền mà các em sinh sống. - Giáo viên dạy kiến thức bài học, tích hợp và lồng ghép với các vấn đề thực tiễn ở địa phương được đặt ra. - Giáo viên giao nhiệm vụ hướng dẫn học sinh. Khi thực hiện giáo viên yêu cầu học sinh ghi chép số liệu, lưu hình ảnh minh họa từ môi trường địa phương để làm tài liệu. e. Bước 5: Đánh giá và nghiệm thu sản phẩm Giáo viên có thể tổng kết, đánh giá bằng nhiều hình thức. Có thể đánh giá bằng bảng sản phẩm nhóm theo tiêu chí được thiết lập sẵn. Hoặc đánh giá bằng hình thức kiểm tra thường xuyên sau khi học xong bài học. 8
- 2. Về phía học sinh: Học sinh có nhiệm vụ nghiên cứu, tìm tòi, tạo sản phẩm theo các bước: a. Bước 1: Học sinh lập kế hoạch học tập - Thống nhất thời gian làm việc, phân công công việc cụ thể. - Tìm kiếm những công cụ, phương pháp phù hợp tạo ra sản phẩm của nhóm. b. Bước 2: Học sinh thực hiện hoạt động trải nghiệm, tìm kiếm môi trường thực tiễn, lấy hình ảnh, số liệu... từ địa phương, từ các nguồn chính thống trên Internet, lập kế hoạch, ghi chép hoạt động. c. Bước 3: Học sinh hoàn chỉnh sản phẩm, họp nhóm thảo luận chỉnh sửa sản phẩm, trao đổi với giáo viên để chỉnh sửa sản phẩm, giải quyết những nội dung còn vướng mắc. d. Bước 4: Học sinh trình bày sản phẩm (các nhóm báo cáo kết quả, sản phẩm). e. Bước 5: Học sinh làm bài kiểm tra đánh giá thường xuyên sau khi học xong bài học (nếu có). 3. Xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể: Theo sự phân công chuyên môn của nhà trường, trong năm học 2024-2025 này, tôi đang trực tiếp giảng dạy các lớp khối 10. Mặc dù trên thực tế trong chương trình Ngữ Văn THPT có rất nhiều bài học có thể giáo dục truyền thống hiếu học quê hương cho học sinh. Nhưng trong khuôn khổ giới hạn của giải pháp này, tôi chỉ xin phép tích hợp dự án dạy học trên vào một bài học cụ thể mà tôi đang trực tiếp giảng dạy theo đúng phân công chuyên môn của tổ bộ môn cũng như của nhà trường. Đó là bài học “Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội”. VIẾT VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức a/ Nhận biết: Nắm được khái niệm kiểu bài viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội. b/ Thông hiểu: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận trong văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội. c/Vận dụng thấp: Xây dựng được dàn ý cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội. 9
- d/Vận dụng cao: Viết được bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội có bố cục mạch lạc, logic. 2. Năng lực a. Năng lực chung - Năng lưc̣ giải quyế t vấ n đề , năng lưc̣ tư ̣ quản bản thân, năng lưc̣ giao tiế p, năng lưc̣ hơp̣ tác... b. Năng lực riêng biệt: - Nhận biết và phân tích được cách sắp xếp, trình bày luận điểm, lí lẽ, bằng chứng và vai trò của yếu tố biểu cảm trong bài văn nghị luận - Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội: trình bày rõ quan điểm và hệ thống luận điểm, bài viết có cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các bằng chứng thuyết phục 3. Phẩm chất: Từ nhận thức về những vấn đề xã hội, có ý thức tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán những quan niệm sai lầm. - Thấy được giá trị của việc tìm hiểu truyền thống văn hóa, lịch sử của quê hương, đất nước - Yêu mến, tự hào về truyền thống hiếu học của quê hương. - Có ý thức học tập, rèn luyện góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. - Phê phán những tư tưởng lệch lạc, những cá nhân không biết phát huy truyền thống quê hương. II. Ý nghĩa của bài học 1. Ý nghĩa thực tiễn dạy học - Với việc tích hợp giáo dục truyền thống hiếu học quê hương vào bài học, giáo viên có điều kiện được tìm hiểu sâu hơn về các kiến thức tích hợp, liên môn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học. - Giúp cho học sinh nắm được những kiến thức về bài học, hứng thú với môn Ngữ Văn, làm cho hiệu quả học tập bộ môn được nâng cao. Đồng thời phát triển năng lực, hứng thú say mê học tập của học sinh. 10
- 2. Ý nghĩa thực tiễn đời sống - Giúp học sinh thêm yêu quê hương đất nước, con người, dân tộc mình, tự hào về truyền thống hiếu học của quê hương. Từ đó là động lực để các em phấn đấu vươn lên trong học tập. - Giúp các em có ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. - Bài học giúp cho học sinh có kĩ năng sống tốt hơn. III. Chuẩn bị 1. Chuẩn bị của giá o viên - Giáo án, dự án dạy học - Phiế u bài tâp,̣ trả lờ i câu hỏi - Những câu danh ngôn, những câu châm ngôn quen thuộc; những mẩu tin trên báo chí mang tính thời sự - Bảng phân công nhiêṃ vu ̣cho hoc̣ sinh hoaṭ đông̣ trên lớ p - Bảng giao nhiêṃ vu ̣hoc̣ tâp̣ cho hoc̣ sinh ở nhà 2. Chuẩn bị của học sinh - Đoc̣ trướ c ngữ liệu trong SGK để trả lờ i câu hỏi tìm hiểu bài - Các sản phẩm thưc̣ hiêṇ nhiêṃ vu ̣hoc̣ tâp̣ ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước) - Đồ dùng hoc̣ tâp̣ IV. Tổ chức dạy và học. 1. Dạy học dự án (thực hiện ở nhà, trước giờ học) a. Giáo viên - Xây dựng kế hoạch, dự án dạy học - Định hướng cho học sinh vấn đề cần tìm hiểu đó là Truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang. - Xác định nội dung kiến thức: bài học “Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội” 11
- - Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 9-10 học sinh, mỗi nhóm có 1 nhóm trưởng 1 thư kí - Giao nhiệm vụ cho các nhóm: giáo viên yêu cầu học sinh tìm tòi, khám phá những tri thức về truyền thống hiếu học của địa phương; tạo ra được những sản phẩm học tập để giới thiệu, trình bày. Các nhóm có thể lựa chọn cách trình bày bằng video, hình ảnh hoặc bằng sản phẩm trên giấy A0. Có thể đến thăm đền thờ của những danh nhân khoa bảng mà nhóm mình tìm hiểu, ghi lại hình ảnh, minh chứng. + Nhóm 1: Tìm hiểu về truyền thống khoa bảng của quê hương Bắc Giang + Nhóm 2,4: Tìm hiểu về trạng nguyên Giáp Hải + Nhóm 3: Tìm hiểu về Tiến sĩ Thân Nhân Trung - Cung cấp những tri thức bổ trợ hoặc là cố vấn giúp học sinh giải quyết những nhiệm vụ khó khăn. - Đánh giá và nghiệm thu sản phẩm của học sinh b. Học sinh: - Học sinh lập kế hoạch học tập, thống nhất thời gian làm việc, phân công công việc cụ thể. - Tìm kiếm những công cụ, phương pháp phù hợp tạo ra sản phẩm của nhóm. - Thực hiện hoạt động trải nghiệm, tìm kiếm môi trường thực tiễn, lấy hình ảnh, số liệu... từ địa phương, từ các nguồn chính thống trên Internet, lập kế hoạch, ghi chép hoạt động. - Hoàn chỉnh sản phẩm, họp nhóm thảo luận chỉnh sửa sản phẩm, trao đổi với giáo viên để chỉnh sửa sản phẩm, giải quyết những nội dung còn vướng mắc. V. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC A. HOẠT ĐỘNG MỞ ĐẦU a) Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của mình. Dẫn dắt vào bài mới b) Nội dung: GV tổ chức trò chơi Ô chữ bí mật c) Sản phẩm: Câu trả lời và thái độ khi tham gia trò chơi 12
- d) Tổ chức thực hiện: nha HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ Gợi ý: - Gv chuyển giao nhiệm vụ: Cách 1: Nội dung video phản cảm, gây bức xúc trong dư luận Cách 1: Gv chiếu video và yêu cầu học sinh chia sẻ cảm nhận của mình về video => Đây chỉ là một trong số các video độc (Video Nờ ô nô mua phở cho bà cụ) hại đang tràn lan trên các trang mạng xã hội, cũng chính là một vấn nạn trong đời Cách 2: Sự lựa chọn thần tượng của giới sống xã hội hiện nay. Vậy làm thế nào để trẻ, hiện tượng biến đổi khí hậu, cách sử có thể viết được một văn bản nghị luận về dụng thời gian rảnh rỗi, ảnh hưởng của các vấn đề xã hội đó? Chúng ta cùng tìm đại dịch đối với đời sống xã hội, vấn đề hiểu tiết viết: Viết văn bản nghị luận về ngộ độc thực phẩm, tình yêu tuổi học trò, một vấn đề xã hội vấn đề sử dụng mạng xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lối sống tách biệt với Cách 2: Hs tự trả lời theo quan điểm cá xã hội của giới trẻ, lối sống ảo, lười đọc- nhân, GV định hướng vào bài mới như xa rời tri thức cách 1 Trong số vấn đề nêu trên, em hãy chọn 5 vấn đề vấn đề liên quan đến bản thân em hoặc vấn đề mà em quan tâm nhất. Vì sao em lại chọn những vấn đề đó? Cách 3: Gv tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”. Điểm chung của những hình ảnh Cách 3: này là gì? + Lá lành đùm lá rách + Nhường cơm sẻ áo +Thương người như thể thương thân - Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn 13
- + Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ + Một miếng khi đói bằng một gói khi no -> Đều là những thành ngữ, tục ngữ nói về bài học, đạo lí làm người, truyền thống của dân tộc - HS tiếp nhận nhiệm vụ. Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực hiện nhiệm vụ - HS quan sát, lắng nghe - GV quan sát Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - Gv tổ chức hoạt động - Hs trả tham gia trò chơi Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - GV nhận xét, bổ sung, dẫn dắt vào bài: Những câu tục ngữ, thành ngữ mà các em vừa tìm được đó cũng chính là đạo lý của dân tộc ta - một vấn đề xã hội. Vậy làm thế nào để làm một bài văn nghị luận về vấn đề xã hội, cô trò chúng ta sẽ tìm hiểu tiết 14
- B. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Hoạt động 1: Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài a. Mục tiêu: - Nhận biết được yêu cầu của một bài luận thuyết phục b. Nội dung: GV hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm đôi bằng PHT c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời bằng ngôn ngữ nói của HS d. Tổ chức thực hiện HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM NV: Hướng dẫn Hs tìm hiểu yêu I. Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài cầu về kiểu bài - Giới thiệu được vấn đề xã hội cần bàn luận Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ - Nêu rõ lí do lựa chọn và quan điểm cá nhân - Gv chuyển giao nhiệm vụ về vấn đề xã hội cần bàn luận Em hãy cho biết khi viết văn bản nghị - Chứng minh quan điểm bằng hệ thống luận luận về một vấn đề xã hội cần phải điểm chặt chẽ, hợp lí; sử dụng các lí lẽ thuyết đảm bảo những yêu cầu nào? phục và bằng chứng chính xác, đầy đủ. - HS tiếp nhận nhiệm vụ. - Biết sử dụng yếu tố biểu cảm để tăng sức thuyết phục của văn bản. Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực hiện nhiệm vụ - Khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận - HS quan sát, trao đổi với bạn cùng bàn - GV quan sát, gợi mở Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - Gv tổ chức hoạt động - HS trình bày câu trả lời, nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện 15
- nhiệm vụ - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức Hoạt động 2: Đọc và phân tích bài viết tham khảo a. Mục tiêu: - Nhận biết ý nghĩa của việc lựa chọn nhan đề - Hiểu được cách triển khai vấn đề bằng hệ thống luận điểm; cách tác giả chứng minh quan điểm và thuyết phục người đọc bằng lí lẽ, bằng chứng... - Nhận biết được tác dụng của yếu tố miểu tả, biểu cảm trong bài văn nghị luận b. Nội dung: Gv hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm đôi bằng PHT c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời bằng ngôn ngữ nói của HS d. Tổ chức thực hiện: HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM NV: Đọc và phân tích bài viết tham II. Đọc và phân tích bài viết tham khảo khảo Bài viết: Sống đơn giản- xu thế của thế kỉ Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ XXI - Gv chuyển giao nhiệm vụ - Nhan đề ngắn gọn nhưng đã bao quát được nội dung của cả bài. Câu 1: Nhận xét về cách đặt nhan đề bài viết. - Vấn đề được người viết triển khai bằng những luận điểm Câu 2: Vấn đề đã được người viết triển khai bằng những luận điểm nào? + Khái niệm về sống đơn giản Câu 3: Chỉ ra các yếu tố làm nên sức + Quan điểm về cách để sống đơn giản trong thuyết phục của văn bản. cuộc sống hiện tại - HS tiếp nhận nhiệm vụ. + Ý nghĩa của việc sống đơn giản Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực + Đề xuất giải pháp sống đơn giản trong hiện nhiệm vụ cuộc sống hiện - HS quan sát, trao đổi với bạn cùng - Yếu tố để làm nên sức thuyết phục của văn 16
- bàn bả - GV quan sát, gợi mở ( em thấy kênh + Luận điểm rõ ràng, lí lẽ dẫn chứng thuyết nào dễ nhìn, dễ nhớ hơn...) phục Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động + Tư tưởng quan điểm trong bài văn hướng và thảo luận tới giải quyết vấn đề mà đề bài đưa ra - Gv tổ chức hoạt động + Sử dụng kết hợp các yếu tố tự sự, biểu cảm để tăng sức biểu đạt cho bài văn - HS trình bày câu trả lời, nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức Hoạt động 3: Thực hành viết theo các bước a. Mục tiêu: b. Nội dung: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm đôi bằng PHT, phân tích ví dụ c. Sản phẩm học tập: Sản phẩm PHT, câu trả lời của học sinh d. Tổ chức thực hiện: HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM NV1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu III. Thực hành viết theo các bước các bước Chuẩn bị viết 1. Chuẩn bị viết Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ Lựa chọn đề tài: Suy nghĩ về truyền thống cv hiếu học của nhân dân ta. - GV chuyển giao nhiệm vụ: Vấn đề mà em định viết là gì? - Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực 17
- hiện nhiệm vụ - HS quan sát, lắng nghe và trả lời - GV quan sát, hỗ trợ Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận 2. Tìm ý, lập dàn ý - Gv tổ chức hoạt đông a. Tìm ý - HS báo cáo kết quả, nhận xét, bổ 1. Truyền thống khoa bảng của quê sung hương Bắc Giang Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện - Hiếu học là một truyền thống quý báu nhiệm vụ của dân tộc ta nói chung và của quê hương Bắc Giang nói riêng. - Gv bổ sung, nhận xét - Bắc Giang có khá nhiều “làng tiến sĩ” NV2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu với những nhân vật đã được sử xanh, bia đá bước Tìm ý, lập dàn ý khắc tên. Các làng tiến sĩ như: Cẩm Xuyên Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ (Hiệp Hòa), Cổ Dũng (Yên Dũng), Yên Ninh (Việt Yên) hay Song Khê (TP Bắc Giang) - GV chuyển giao nhiệm vang danh trong lịch sử khoa cử nước nhà. + Gv hướng dẫn Hs tìm ý theo PHT số - Những tên tuổi nổi bật như: Quách 1: Nhẫn (đỗ Thám hoa năm 1275), Đào Sư Tích (đỗ Trạng nguyên năm 1374), Thân Nhân Câu hỏi Câu trả Trung (đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ năm lời 1469), Giáp Hải (đỗ trạng nguyên – năm ) Vì sao bạn muốn bàn luận => Bắc Giang thực sự là nơi có truyền vấn đề này? thống hiếu học cần được phát huy, nhân rộng. 2. Những danh nhân khoa bảng tiêu Vấn đề này có ý nghĩa như biểu của quê hương Bắc Giang thế nào đối với cá nhân và a. Trạng nguyên Giáp Hải cộng đồng? * Thân thế Bạn có quan điểm như thế - Trạng nguyên Giáp Hải (1517-1586) nào về vấn đề này? còn có tên là Giáp Trừng, hiệu Tiết Trai, còn Nếu có quan điểm nào gọi là Trạng Kế khác thì bạn đồng tình hay - Quê làng Dĩnh Kế, xã Dĩnh Kế, huyện 18
- phản đmì? Phượng Nhãn (nay thuộc phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang) Bạn cần đưa ra lí lẽ, bằng - Ông là một danh nhân khoa bảng tiêu chứng gì để chứng minh biểu của cả nước được nhiều người biết đến. quan điểm của mình là * Cuộc đời, sự nghiệp đúng đắn và thuyết phục - Năm Mậu Tuất, niên hiệu Đại Chính 9 người khác đồng tình với (1538) triều Mạc mở khoa thi, Giáp Hải đậu mình Đệ nhất tiến sĩ cập đệ nhất danh (Trạng nguyên) Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực - Sau khi đậu ông làm quan trải lục bộ hiện nhiệm vụ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, Thái bảo, làm Thượng thư của - HS quan sát, lắng nghe và trả lời cả 6 Bộ kiêm Đông các, tước Sách quận công - GV quan sát, hỗ trợ và từng nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Quốc. Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động - Năm 1998, “Sách đá” ghi lại nguồn gốc và thảo luận quê hương dòng họ Giáp của ông được phát - Gv tổ chức hoạt đông hiện tại xã Dĩnh Trì (nay là Thành phố Bắc Giang). - HS báo cáo kết quả, nhận xét, bổ - Khi ông qua đời, nhân dân đã an táng, sung xây lăng quan Trạng, lập đền thờ quan Trạng, Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện tổ chức tế lễ rước sách uy nghiêm trong ngày nhiệm vụ hội làng và rằm tháng 3 âm lịch hàng năm. - Gv bổ sung, nhận xét b. Tiến sĩ Thân Nhân Trung * Thân thế - Thân Nhân Trung (1419-1499) - Quê: xã Yên Ninh, huyện Yên Dũng, nay là thôn Yên Ninh, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. * Cuộc đời, sự nghiệp - Thân Nhân Trung đỗ Hội nguyên, đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ mười (1469). - Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đông các đại học 19
- sĩ, Nhập nội phụ chính, Quốc Tử giám Tế tửu (1493). Ông được vua Lê Thánh Tông vời vào hoàng cung dạy học cho các hoàng tử, là thành viên được vua lê Thánh Tông phong là "Tao Đàn Phó nguyên soái" (Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam). - Là tác giả của Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442) với câu nói nổi tiếng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. b. Lập dàn ý Hs lập dàn ý theo gợi ý: Mở Nêu được vấn đề xã hội cần nghị bài luận Mở bài gây ấn tượng với người đọc Thân Nêu ý nghĩa của vấn đề đối với đời bài sống Trình bày quan điểm cá nhân Trình bày cơ sở về nhận thức và thực tiện để người viết đề xuất quan điểm nhìn nhận, đánh giá Nêu lí lẽ, bằng chứng để chứng minh quan điểm Kết Khẳng định ý nghĩa của vấn đề xã hội vừa bàn luận bài Nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề đó Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo 20

