Vận dụng phương pháp giáo dục STEAM trong giảng dạy đọc hiểu văn bản Ngữ Văn nhằm phát huy năng lực của học sinh

doc 63 trang Gia Hân 10/01/2026 100
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Vận dụng phương pháp giáo dục STEAM trong giảng dạy đọc hiểu văn bản Ngữ Văn nhằm phát huy năng lực của học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docvan_dung_phuong_phap_giao_duc_steam_trong_giang_day_doc_hieu.doc

Nội dung tài liệu: Vận dụng phương pháp giáo dục STEAM trong giảng dạy đọc hiểu văn bản Ngữ Văn nhằm phát huy năng lực của học sinh

  1. Bảng danh mục chữ viết tắt GV Giáo viên HS Học sinh THPT Trung học phổ thông PPDH Phương pháp dạy học GDĐT Giáo dục đào tạo
  2. MẪU 5 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Vận dụng phương pháp giáo dục STEAM trong giảng dạy đọc hiểu văn bản Ngữ Văn nhằm phát huy năng lực của học sinh. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20/9/2022 3. Các thông tin cần bảo mật nếu có: hình ảnh của học sinh 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Trong thực tiễn giảng dạy, để giúp HS đọc hiểu các văn bản Ngữ Văn 11, tôi nhận thấy đa phần giáo viên đã lựa chọn biện pháp sau: Biện pháp: Giảng văn - Tình trạng: HS ít phải hoạt động - Nhược điểm, hạn chế: + Tách riêng nội dung và nghệ thuật + Quá chú trọng vai trò của người Thầy 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: - Nghề nào cũng cần có sự đổi mới, nghề dạy học lại càng cần có sự đầu tư sáng tạo hơn nữa bởi lẽ đây là nghề trao và nhận kiến thức. Kiến thức vốn đã phong phú, đa dạng, biết đã khó hướng dẫn người khác còn khó hơn. Cho nên người thầy dạy học ngoài chuyên môn vững vàng, kiến thức sâu rộng rất cần có phương pháp giảng dạy tốt để học sinh tiếp nhận kiến thức dễ nhất và nhanh nhất. Đặc biệt người thầy cũng phải linh hoạt thay đổi các phương pháp truyền giảng để tạo hứng thú cho học sinh. Môn Ngữ văn vừa là một môn khoa học lại là bộ môn có tính nghệ thuật. Đây là môn học của cảm xúc, của trái tim tác động đến người học thông qua những hình tượng nghệ thuật. Không có những con số chính xác, những công thức mặc định, môn Ngữ văn mang đến những cảm nhận, những rung cảm từ đó tác động đến tâm hồn, tình cảm giúp các em học sinh có thêm những nhận thức, những trải nghiệm về cuộc sống. Do tính chất, đặc trưng riêng của bộ môn, dạy học môn Ngữ văn đòi hỏi ở người thầy những đặc thù khác biệt. Ngoài việc phải biết tự xác định lượng kiến thức trong bài để xây dựng được hệ thống kiến thức mạch lạc, người thầy rất cần có phương pháp giảng dạy hấp dẫn nhằm kích thích hứng thú cũng như những rung cảm nghệ thuật của các em học sinh. Đến với mỗi bài giảng người
  3. giáo viên Ngữ văn cần tìm hiểu kĩ, đặt mình vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, hiểu được căn cốt vấn đề từ đó hướng dẫn học sinh bằng tất cả tâm huyết của mình. Cùng với tâm huyết, trách nhiệm người giáo viên Ngữ văn trước khi lên lớp phải nghiên cứu kĩ các phương pháp truyền đạt để có được phương thức giảng dạy phù hợp với nội dung bài học và tâm lí của học sinh. - Giáo dục STEAM đang là vấn đề thời sự của giáo dục nước nhà, là một hướng đi rất thiết thực cho sự đổi mới nền giáo dục, phù hợp với xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Đã có rất nhiều tài liệu dành riêng cho giáo dục STEAM nhưng chúng ta vẫn chưa đạt được sự thống nhất về nhận thức và cách tiếp cận giáo dục STEAM. Trước thực tế đó, sáng kiến này mong muốn góp một phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề chủ yếu về lí luận của dạy học STEAM và sự liên quan của nó với việc giảng dạy môn Ngữ văn THPT. Từ những trăn trở về đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng, từ những băn khoăn về các văn bản trong chương trình Ngữ văn 11, tôi xin chia sẻ với bạn bè đồng nghiệp về vấn đề mà tôi đã trải nghiệm: “Vận dụng phương pháp giáo dục STEAM trong giảng dạy đọc hiểu văn bản Ngữ Văn nhằm phát huy năng lực của học sinh”. 6. Mục đích của của giải pháp sáng kiến Sáng kiến tập trung làm rõ những vấn đề chủ yếu của lí luận của dạy học STEAM và sự liên quan của nó với việc giảng dạy môn Ngữ văn THPT; đề xuất một số hình thức vận dụng lí luận STEAM vào quá trình giảng dạy. Đồng thời, trong sáng kiến này, nhóm tác giả cũng đưa ra một cách soạn giáo án mới, nêu rõ việc áp dụng STEAM một cách cụ thể trong các hoạt động dạy học. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: Nhóm giải pháp mà chúng tôi thực hiện để vận dụng dạy học dự án Steam trong giảng dạy một số văn bản Ngữ Văn 11 nhằm phát huy năng lực của học sinh gồm những giải pháp cụ thể sau: + Trang bị, cung cấp tri thức về phương pháp giáo dục STEAM + Định hướng vận dụng phương pháp STEAM nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của HS qua các bài đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn THPT + Mô hình bài giảng mẫu: Vận dụng phương pháp dạy học STEAM vào giảng dạy tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao 7.1.1 Giải pháp 1 *Tên giải pháp: Trang bị, cung cấp tri thức về phương pháp giáo dục STEAM *Nội dung:
  4. 7.1.1.1 Phương pháp giáo dục STEAM hướng tới một quan niệm: Ph ương pháp giáo dục STEAM là phương pháp kết hợp giữa các môn học STEAM gồm Khoa học-Science, Công nghệ -Technology, Kỹ thuật-Engineering, và Toán học-Mathematics và bổ sung thêm Nghệ thuật-Art. Phương pháp STEAM sẽ tập trung học tập và thực hành thay vì theo cách giáo dục truyền thống chủ yếu học lý thuyết. Người học được tiếp cận và trang bị kĩ năng liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học theo cách tiếp cận liên môn. Từ đó vận dụng linh hoạt kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn trong học tập và trong cuộc sống. Phương pháp STEAM xem giáo viên là người cung cấp kiến thức, hỗ trợ về học tập và học sinh mới là trung tâm. Tiêu chí của phương pháp này là không truyền đạt tri thức một chiều, không áp đặt các kiến thức lý thuyết mà chú trọng giúp người học tự tìm hiểu khám phá tự đặt ra các câu hỏi và trả lời. Các kiến thức và kỹ năng được tích hợp, lồng ghép với nhau trong bài học giúp học sinh hiểu rõ về nguyên lý và có thể thực hành giải quyết được các vấn đề mình gặp phải.
  5. Phương pháp học này nhấn mạnh việc học tập dựa trên thực hành thay vì cách giáo dục truyền thống, kiến thức lí thuyết. STEAM là một sự chuyển đổi từ cách thức giáo dục truyền thống, dựa vào tiêu chuẩn điểm số để đánh giá, với mục đích giúp học sinh hiểu được sự liên quan giữa các khối kiến thức và có thể vận dụng tốt vào thực tế. Chương trình giáo dục STEAM thành công ở khả năng truyền cảm hứng cho học sinh. Các em còn không nhận ra mình đang tiếp thu một lượng lớn kiến thức nhờ sự say mê cuốn theo từng hoạt động của cả lớp, Truyền cảm hứng luôn là một yếu tố quan trọng để học sinh đam mê và phát huy tiềm năng bản thân. Nội dung kiến thức trong giáo dục STEAM không khác nhiều với chương trình giáo dục thông thường nhưng nó khuyến khích học sinh tìm ra giải pháp thực tế cho mỗi vấn đề mà các em đang gặp phải. Học sinh được tham gia nhiều các hoạt động thảo luận để rèn luyện tư duy sáng tạo, luôn biết liên hệ thực tế. Cần phân biệt dạy học theo STEM và STEAM. Chữ “A” (ART) là một thuật ngữ đại diện cho nghệ thuật tự do, nghệ thuật ngôn ngữ, nghiên cứu xã hội, nghệ thuật thể chất, mĩ thuật và âm nhạc. Giáo dục STEAM là áp dụng tư duy sáng tạo, kích thích trí tưởng tượng giúp người học khám phá và phát triển các kĩ năng cần thiết như hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề và suy nghĩ phê phán. Cách học tập này cũng tăng cường tính linh hoạt của học sinh, khả năng thích ứng, năng suất, trách nhiệm và đổi mới. Giáo dục theo STEAM là một bước chuyển mình mới đưa giáo dục tiến bộ và phát triển hơn 7.1.1.2. Cơ sở hình thành dạy học dự án STEAM trong giáo dục nước ta. Giáo dục theo hướng vận dụng những kĩ thuật, phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại trong đó có vận dụng dạy học theo dự án STEAM là một định hướng của nền giáo dục nước nhà theo hướng đổi mới. Định hướng phát triển GDĐT giai đoạn 2021-2030 Đại hội XIII xác định là: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài”. Việc Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “tạo đột phá” trong đổi mới GDĐT là xuất phát từ tình hình thực tế sau 35 năm đổi mới đất nước, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, mười năm thực hiện Cương lĩnh 2011, đặc biệt là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII. Mặc dù sự nghiệp GDĐT đã có những chuyển biến tích cực cả về quy mô, số lượng, chất lượng, hiệu quả, cả về nội dung, phương pháp, phương thức đào tạo và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, Tuy nhiên, việc “đổi mới GDĐT, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”. Sự hạn chế đó không chỉ thể hiện trên bình diện tư duy, chính sách, giải pháp, tổ chức hệ thống, công tác tổ chức, cán bộ, mà còn cả về mặt giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục nghề nghiệp, kỹ năng thực hành, giáo dục kết hợp nghiên cứu khoa học, đầu tư cho giáo dục chưa theo kịp yêu cầu phát triển... Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự tích lũy kho tàng tri thức khổng lồ của loài người, càng đòi hỏi phải kịp
  6. thời đổi mới cách tiếp cận, nội dung, phương pháp GDĐT. Như vậy, sự “tạo đột phá” là yêu cầu cấp thiết, khách quan, phù hợp với mục tiêu về GDĐT và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Nhiệm vụ, giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT trong nhiệm kỳ Đại hội XIII có nhiều điểm mới so với Đại hội XII, không còn gộp chung với khoa học công nghệ mà được tách thành một mục riêng “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”; thay từ “phát triển” bằng từ “nâng cao” và thêm cụm từ “phát triển con người”. Trên cơ sở đó, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 đã đặt ra nhiệm vụ: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, trọng tâm là hiện đại hóa giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng”. Nếu trước đây chỉ nhấn mạnh “phát triển nhanh GDĐT”, thì điểm mới lần này là trực tiếp đề cập đến việc đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng đề ra 5 nhiệm vụ, giải pháp phát triển GDĐT giai đoạn 2021-2030, đó là: Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương GDĐT cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước; tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học, tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục; xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo; hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sở GDĐT, cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, cần đổi mới chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt; nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho GDĐT gắn với đổi mới cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư, hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa GDĐT đúng hướng, hợp lý. Phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về GDĐT ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế. Các nhiệm vụ, giải pháp phát triển GDĐT giai đoạn 2021 - 2030 chủ yếu tập trung vào hai nhóm vấn đề lớn là: Xây dựng, hoàn thiện các thể chế, chính sách phát triển GDĐT; tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp GDĐT và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân. Việc tập trung xây dựng và hoàn thiện các thể chế, chính sách là để làm sao có thể thu hút và sử dụng tốt nhất các nguồn lực, tạo
  7. thêm động lực nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả cao “chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”. Trong đó nhấn mạnh những điểm mới như: Thực hiện lộ trình tiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông; phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của Việt Nam; đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; quan tâm thích đáng phát triển giáo dục ở miền núi, vùng cao, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Gắn kết chặt chẽ GDĐT với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới; đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, đi đôi với chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đầu tư thích đáng cho GDĐT chất lượng cao, trình độ cao; đầu tư đặc thù cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh tự chủ đại học, tạo đột phá phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao Việc tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp GDĐT theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế là nhằm thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; còn việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân là nhằm bảo đảm điều kiện cho mỗi người dân đều được thụ hưởng một cách công bằng thành quả của nền giáo dục. Theo đó, GDĐT cần đặt trọng tâm vào phát triển con người một cách toàn diện cả về phẩm chất đạo đức, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi của tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc; khơi dậy được khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đổi mới GDĐT phải bắt đầu từ giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học, quan tâm nhiều tới giáo dục phổ thông; đưa nội dung kỹ năng số vào chương trình giáo dục phổ thông; nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh; đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng nhận thức, tư duy sáng tạo, kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số và hội nhập quốc tế; chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua Internet, truyền hình Qua đại dịch Covid-19 cho thấy giáo dục đã chuyển mình tương đối thành công sang giáo dục trực tuyến, điều này cũng phù hợp xu thế thời đại; hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học, đây là vấn đề căn bản, cốt yếu của mọi nền giáo dục, riêng ở nước ta còn nhiều bất cập; hoàn thiện và thực hiện ổn định các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng GDĐT. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền; thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học; thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập
  8. sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư phát triển; xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời; chú trọng đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, nếu không làm tốt điều này thì không thể đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT được. Tiếp tục hoàn thiện các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế Những định hướng và nhiệm vụ, giải pháp phát triển GDĐT trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng có ý nghĩa hết sức sâu sắc, một mặt khẳng định tính kế thừa, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng coi GDĐT là quốc sách hàng đầu; thể hiện sự nhanh nhạy của Đảng, Nhà nước ta trong việc thích ứng với xu thế thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam; mặt khác tiếp tục làm sáng tỏ quan điểm đặt con người ở vị trí trung tâm, con người là mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng, trên nền tảng của sự phát triển GDĐT. Để hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về GDĐT, ngoài sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thiết nghĩ mỗi cán bộ, giáo viên ngành GDĐT cần phải đầu tư nghiên cứu kỹ hơn, sâu hơn về nội dung GDĐT, từ đó vận dụng một cách có hiệu quả vào thực tiễn công tác của mình. Dạy học theo dự án STEAM là một phương pháp dạy học mởi rất phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Điều 28.2 trong Luật giáo dục đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”. Đánh giáthực trạng giáo dục Việt Nam, tài liệu chiến lược phát triển giáo dục đã khẳng định: “Chương trình giáo dục còn nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp; chưa gắn bó thực tiễn với phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và triển khai ứng dụng". Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”, với mục tiêu: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân..” 7.1.1.3. Các phẩm chất, năng lực cần phát triển cho HS qua dạy học theo dự án STEAM.
  9. a. Về phẩm chất * Yêu nước: Đây là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam, được xây dựng và bồi đắp qua các thời kỳ từ khi ông cha ta dựng nước vàgiữ nước. Tình yêu đất nước được thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, di sản, yêu người dân đất nước mình; tự hào và bảo vệ những điều thiêng liêng đó. Yêu nước là yêu thiên nhiên, yêu truyền thống dân tộc, yêu cộng đồng và biết làm ra các việc làm thiết thực để thể hiện tình yêu đó. Để có được tình yêu này thì học sinh phải được học tập hàng ngày qua những áng văn thơ, qua những cảnh đẹp địa lý, qua những câu chuyện lịch sử và người học phải được sống trong tình yêu hạnh phúc mỗi ngày. * Nhân ái: Nhân ái là biết yêu thương, đùm bọc mọi người; yêu cái đẹp, yêu cái thiện; tôn trọng sự khác biệt; cảm thông, độ lượng và sẵn lòng giúp đỡ người khác. Nhân ái là tôn trọng sự khác biệt của những người xung quanh, không phân biệt đối xử, sẵn sàng tha thứ, tôn trọng về văn hóa, tôn trọng cộng đồng. * Chăm chỉ: Đức tính chăm học, chăm làm, hăng say học hỏi và nhiệt tình tham gia công việc chung sẽ giúp các em học sinh rèn luyện, phát triển bản thân để đạt được những thành công lớn lao trong tương lai. Chăm chỉ thể hiện ở những kỹ năng học tập hàng ngày
  10. của người học, học mọi lúc mọi nơi, luôn dám nghĩ dám làm, dám đặt câu hỏi. Việc rèn nề nếp học tập chủ động, học tập qua trải nghiệm sẽ hỗ trợ các em học sinh hình thành phẩm chất đáng quý này. * Trung thực: Dù một người có giỏi đến đâu mà thiếu đi đức tính này thì vẫn là kẻ vô dụng. Bởi thế nên ngay từ nhỏ, các học sinh cần được rèn luyện tính thật thà, ngay thẳng và biết đứng ra bảo vệ lẽ phải. Trung thực là thật thà ngay thẳng, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình, biết nhận lỗi, sửa lỗi, bảo vệ cái đúng cái tốt. Với môi trường học tập không áp lực, không nặng nề điểm số, khuyến khích người học nói lên chính kiến của mình thông qua các dạng học tập nhóm, hội thảo, tranh biện sẽ dần hình thành tính cách chia sẻ, cởi mở cho học sinh ngay từ nhỏ. * Trách nhiệm: Chỉ khi một người có trách nhiệm với những gì mình làm thì đó mới là khi họ trưởng thành và biết cống hiến sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn. Trách nhiệm việc xây dựng nội quy lớp học, môn học, việc hướng dẫn trẻ tự kiểm soát đánh giá những quy định mà chúng đã đề ra sẽ dần hình thành tinh thần trách nhiệm với cá nhân trẻ, với tập thể lớp, với gia đình và tiến tới với xã hội. b. Về năng lực * Năng lực giải quyết vấn đề: Năng lực giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn được thể hiện ở khả năng đánh giá nội dung của văn bản, biết làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng, độ tin cậy của những thông tin và ý tưởng mới; biết quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng; biết đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau. Môn Ngữ văn đề cao vai trò của HS với tư cách là người đọc tích cực, chủ động, không chỉ trong hoạt động tiếp nhận mà còn trong việc tạo nghĩa cho văn bản. Khi viết, HS cần phải bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng và triển khai ý tưởng một cách sáng tạo. Qua việc học môn Ngữ văn, nhất là đọc và viết về văn học, HS có được khả năng đề xuất ý tưởng, tạo ra sản phẩm mới; suy nghĩ không theo lối mòn, biết cách giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, phù hợp với tình huống, bối cảnh. * Năng lực sáng tạo: là năng lực tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả. Năng lực sáng tạo thể hiện sự linh hoạt, nhạy bén, ứng biến nhanh nhạy của học sinh với các đơn vị kiến thức và các tình huống. * Năng lực hợp tác: là hình thức HS làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để cùng giải quyết vấn đề. Khi làm việc cùng nhau, HS học cách làm việc chung, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ.
  11. * Năng lực tự quản bản thân: Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con người trong việc kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều chỉnh hành vi của cá nhân trong các bối cảnh khác nhau. Khả năng tự quản bản thân giúp mỗi người luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình. * Năng lực giao tiếp: Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ. Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích. Ngoài những năng lực chung được nêu trên, môn Ngữ văn ít nhiều có thế mạnh trong những trường hợp nhất định của quá trình dạy học, những năng lực chung khác cũng cần được hướng tới. Chẳng hạn, năng lực sử dụng công nghệ thông tin khai thác các nguồn thông tin mạng, những hình ảnh trực quan về các chi tiết nghệ thuật được miêu tả bằng ngôn ngữ văn học. 7.1.1.4. Mục tiêu của việc phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh theo phương pháp dạy học theo dự án STEAM. Thứ nhất, giáo dục STEAM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy các môn học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEAM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Thứ hai, giáo dục STEAM đề cao đến việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEAM, học sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết. Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra. Thứ ba, giáo dục STEAM đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết.
  12. Thứ tư, bài học STEAM đưa học sinh vào hoạt động nhóm kiến tạo, tìm tòi, khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và tạo ra sản phẩm học Trong bài học Steam, hoạt động của HS được thực hiện theo hướng mở có “khuôn khổ” về các điều kiện mà HS được sử dụng (chẳng hạn điều kiện về các phương tiện học tập). Hoạt động học là hoạt động tự giác và hợp tác; tự tin và mạnh dạn, mở rộng hiểu biết với thế giới bên ngoài. HS tự học và trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng, mở rộng và điều chỉnh kiến thức, điều chỉnh các ý tưởng của mình và thiết kế hoạt động tìm tòi, khám phá của bản thân cho phù hợp với tình huống có vấn đề đang phải giải quyết. Điều quan trọng là sản phẩm hay giải pháp phải do chính HS làm ra và phải có tính mới (sự thay đổi, cải tiến cái cũ hay làm ra cái mới), tính hơn (đẹp hơn, hợp lí hơn, tiết kiệm hơn, ) cái hiện có. Công việc của GV là đặt ra những câu hỏi dạng mở, khơi gợi trí tưởng tượng cho HS; khuyến khích HS đặt câu hỏi và kiên nhẫn với các câu hỏi “đến cùng” của các em. Kết quả học tập chỉ có thể đạt được dựa trên sự nỗ lực của từng cá nhân và phát huy tác dụng cộng hưởng qua tương tác trong và ngoài từng nhóm. Điều đó sẽ có hiệu quả cao nếu nhà trường xây dựng được những tập thể lớp tự chủ, cho HS giao lưu rộng rãi với nhiều người trong xã hội, bạn bè cùng trang lứa ở nơi công cộng cũng như trường học để hỗ trợ cho các hoạt động học tập. Như vậy, mục tiêu chính của dạy học dự án là quá trình, hiệu quả học tập chứ không phải bản thân sản phẩm. Giải quyết các vấn đề có thật trong thực tiễn gắn với nội dung học tập, tránh hàn lâm, kinh viện. Phát triển và rèn luyện cho người học kỹ năng thế kỷ 21 như kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, giao tiếp, làm việc nhóm Khuyến khích tinh thần tự chủ, tự học của người học. Người học chủ động chiếm lĩnh trí thức, rèn kỹ năng và tạo ra sản phẩm có ích cho cộng động, xã hội. Khích lệ sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập. 7.1.1.5. Những ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án STEAM khi ứng dụng vào môn Ngữ văn. a. Về ưu điểm Dạy học theo dự án STEAM sẽ giúp học sinh biết cách gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, gắn kiến thức trong nhà trường và kiến thức ngoài thực tế xã hội. Cách học theo dự án STEAM sẽ góp phần kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học: từ phụ thuộc giáo viên sang hoạt động nhóm, giúp người học từ thụ động ghi nhớ sang khám phá tích hợp và trình bày. Học theo dự án STEAM cũng giúp người học từ hình thức học thụ động sang hình thức học chủ động có định hướng. Ngoài ra cách học dự án STEAM còn góp phần phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; phát triển khả năng sáng tạo; rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp; rèn kỹ năng làm việc nhóm; phát triển năng lực đánh giá.
  13. b. Về hạn chế: Dạy học theo dự án STEAM không phù hợp trong việc truyền thụ kiến thức lí thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kĩ năng cơ bản. Cách học này cũng đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy không thay thế cho phương pháp thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống. Đặc biệt cái khó của học theo dự án STEAM là đòi hỏi phương tiện vật chất và phương tiện phù hợp. 7.1.1.6. Tiến trình thường gặp của hình thức dạy học theo dự án STEAM. a. Sự chuẩn bị: Gồm các bước dưới đây * Xây dựng ý tưởng: Tìm hiểu, phát hiện vấn đề thực tiễn cần giải quyết. * Lựa chọn chủ đề, tiểu chủ đề: Lựa chọn một trong những vấn đề đã phát hiện để làm dự án. * Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập: Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm. b. Thực hiện dự án: Gồm hai bước chính * Thu thập thông tin: Thu thập thông tin và xử lý thông tin thu được. * Thực hiện điều tra: Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. c. Kết thúc dự án: Gồm các bước như sau * Xây dựng sản phẩm và trình bày kết quả: Sản phẩm dự án có thể là những bài thu hoạch, báo cáo hay sản phẩm vật chất, thậm chí là những sản phẩm tinh thần như: Hát, kịch * Đánh giá dự án: Đánh giá sản phẩm của nhóm theo tiêu chí đã đưa ra. Khảo sát thực trạng vận dụng dạy học dự án STEAM nhằm phát triển năng lực, phẩm chất HS qua các bài đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn THPT Để có căn cứ chính xác, khách quan đánh giá thực trạng việc vận dụng các PPDH tích cực nhằm phát triển năng lực, phẩm chất HS qua các bài đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn bậc THPT của một số trường THPT trong tỉnh. Trên cơ sở phân tích số liệu, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của thực trạng, sáng kiến tập trung đề xuất, định hướng, áp dụng một số PPDH tích cực nhằm phát triển năng lực, phẩm chất HS qua các bài đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn bậc THPT, tôi đã tiến hành khảo sát GV và HS khi dạy học các văn bản đọc hiểu môn Ngữ văn THPT. *Kết quả khi thực hiện giải pháp:
  14. Giải pháp trên đây được chúng tôi áp dụng thực hiện cho lớp 11 Sinh trường THPT Chuyên Bắc Giang. Kết quả đánh giá tác động của giải pháp trong việc đọc hiểu một số văn bản Ngữ Văn 11 được tổng hợp bằng hình thức khảo sát như sau: - Đối tượng khảo sát: học sinh lớp 11 Sinh, 34 HS - Thời gian khảo sát: năm học 2022 – 2023 (tháng 9/2022) - Hình thức khảo sát: Phiếu khảo sát - Kết quả khảo sát: + Tổng số phiếu khảo sát: 34 + Tổng số phiếu trả lời: 34 Nội dung đánh giá Trước khi thực hiện Sau khi thực hiện giải pháp giải pháp Hiểu về phương pháp dạy học STEAM 5/34 34/34 Sự cần thiết phải vận dụng phương 6/34 30/34 pháp dạy học STEAM vào việc đọc hiểu các tác phẩm văn học Kết quả khảo sát cho thấy: - Ban đầu rất ít học sinh hiểu rõ ràng, đầy đủ về phương pháp dạy học STEAM. Các em có nghe về phương pháp STEAM và hiểu một cách giản đơn là học gắn với thực tiễn, có sản phẩm. Nhưng qua việc giáo viên giới thiệu, trang bị, cung cấp thông tin, HS đã hiểu bản chất của phương pháp giáo dục này. - Trước khi áp dụng phương pháp, phần đông các em HS đều trả lời việc vận dụng dạy học theo dự án STEAM vào học tập các môn nói chung và nhất là đọc hiểu môn Ngữ Văn là chưa cần thiết. Nguyên nhân là bởi các em phải học nhiều môn học, thời gian để thực hành các sản phẩm theo cách học dự án không nhiều. Ngoài ra, HS chưa có thói quen suy nghĩ, sáng tạo nên còn lúng túng, lạ lẫm với những hình thức học mới mẻ. Do sự hạn chế về điều kiện vật chất như kinh phí, các trang thiết bị nên HS ngại thực hành. Nhưng sau khi áp dụng giải pháp, HS đã nhận thấy những ưu điểm của phương pháp dạy học STEAM và mong muốn được thụ hưởng những thành tựu của phương pháp này để hoạt động học tập sôi nổi, hiệu quả hơn. 7.1.2 Giải pháp 2: *Tên giải pháp: Định hướng vận dụng phương pháp STEAM nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của HS qua các bài đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn THPT *Nội dung: 7.1.2.1 Định hướng xây dựng hứng thú cho học sinh Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú. Mỗi tác phẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã được nhà văn chọn
  15. lọc phản ánh. Vì vậy môn văn trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng: Nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn. M.Go rơ Ki nói:''Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở con người khát vọng hướng tới chân lý". Văn học "Chắp đôi cánh" để các em đến với mọi thời đại văn minh, với mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, con người, trang bị cho các em vốn sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện mỹ. Nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn là phải làm cho học sinh hiểu được cái hay cái đẹp của văn học, kích thích sự hứng thú học tập học văn cho học sinh. Một giờ dạy văn là phải tạo ra được những rung động thẩm mỹ, sâu sắc khiến người ta say mê. Song nhiệm vụ không kém phần quan trọng của giáo viên dạy văn là rèn luyện kỹ năng văn học cho học sinh. Thực ra không phải từ khi đến trường các em mới có cảm xúc thẩm mỹ, mới có năng lực cảm thụ cái đẹp. Ngay từ thuở còn nằm trong nôi qua lời ru của bà, của mẹ, lớn lên nghe hát, nghe ngâm thơ... các em đã đượctiếp xúc với văn chương. Vì thế khi đến trường thông qua học tác phẩm văn chương những cảm xúc thẩm mỹ của các em phải được uốn nắn, sửa chữa và bồi dưỡng, nâng lên thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn. Điều đó muốn khẳng định rằng bồi dưỡng học sinh không những là việc làm đúng đắn mà còn là công việc có tầm quan trọng trong nhà trường phổ thông. Nó góp phần phát hiện bồi dưỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật. Nó kích thích cổ vũ mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học sinh nói chung. Nó còn là một việc làm thiết thực góp phần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên. Đối với những thứ khó hiểu, con người thường dễ nản lòng. Chính vì vậy mà bước cơ bản của việc tạo sự hứng khú cho học sinh chính là làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc học để tạo động cơ học tập. Mục tiêu này có thể được trình bày một cách tường minh ngay trong tài liệu học tập hoặc có thể trình bày thông qua các tình huống dạy học cụ thể Sau khi đã giúp học sinh nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của bài học, hãy khiến cho nội dung học tập trở nên thú vị hơn. Các thầy cô có thể sắp xếp lại các kiến thức trong SGK theo phong cách của mình hoặc chia nhỏ nội dung học Nội dung mỗi bài học được làm ngắn gọn, dễ hiểu, đúng trọng tâm làm gia tăng tỷ lệ học sinh xem hết bài giảng cũng như ghi nhớ kiến thức. Thêm vào đó, việc học bài trở thành một nhiệm vụ dễ hoàn thành, học sinh cũng sẽ hào hứng, tự tin hơn.
  16. Cách truyền tải là yếu tố quan trọng quyết định trong việc khơi gợi hứng thú học tập của học sinh. Nội dung hay nhưng cách truyền tải không khơi gợi được hứng thú thì rất uổng phí phần nội dung mà các thầy cô đã mất công tìm tòi, nghiên cứu. Có nhiều thầy, cô chỉ chú trọng nội dung mà không để ý đến cách giảng dạy, khiến học sinh cảm thấy khó hiểu, đôi khi là "nhàm chán" với bài học. Một số hình thức giảng dạy giúp khơi gợi hứng thú học tập của học sinh: Tổ chức trò chơi học tập Trò chơi lúc nào cũng khiến học sinh hứng thú hơn những bài học. Việc lồng ghép kiến thức vào trong các trò chơi có thể mang lại hiệu quả cao hơn. Tổ chức học tập ngoài trời Không gian học tập rộng mở, mới lạ có thể giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn rất nhiều. Tuy nhiên hình thức này cũng khó áp dụng đối với một số môn học vì không đủ công cụ dạy học khi học ngoài trời, không có bảng, bàn ghế cho học sinh ghi chép. Hình thức này chỉ phù hợp với những môn học khoa học, thực tế: môn công nghệ, khoa học... Việc tìm tòi từ thiên nhiên sẽ giúp học sinh đến gần với thực tế hơn là những lý thuyết, mô hình học tập. Tạo ra những video dạy học thú vị Thay vì chỉ đọc viết, chép bảng, các thầy cô có thể thử hình thức truyền tải kiến thức thông qua các video. Khi hướng dẫn học sinh học văn bản “Chí Phèo” giáo viên phải có những cách thức khơi gợi hứng thú cho người học. Hứng thú có thể đến từ khả năng dẫn dắt, gợi mở và những câu hỏi cho học sinh. Nhiệm vụ của người giáo viên là phải khích lệ được nhu cầu muốn khám phá của học sinh và cuốn học sinh vào không khí của tác phẩm. 7.1.2.2 Định hướng xây dựng tinh thần tự học Xã hội đang hướng đến nền kinh tế của kiến thức. Mà để có được kiến thức vững chắc, thì tinh thần tự học lại là yếu tố quyết định. Tự học là sự chủ động, tích cực tìm hiểu kiến thức qua hướng dẫn của thầy cô. Tự học mà không cần người khác nhắc nhở mình. Tự học giúp chúng ta tiếp nhận kiến thức bằng niềm đam mê, hứng thú, chủ động. Còn giúp chúng ta có thói quen không dựa dẫm vào những thứ có sẵn, mà còn giúp ta sáng tạo, linh hoạt hơn trong mọi việc. Muốn thực hiện ước mơ, thì tự học là con đường giúp ta biến ước mơ trở thành hiện thực. Chúng ta cần lĩnh hội được những kiến thức trọng tâm, sáng tạo trong cách học... không chỉ tiếp nhận kiến thức trong trường học mà còn cả trong gia đình và xã hội. Dù ở hình thức nào thì tự học vẫn là yếu tố quan trọng nhất, có vậy thì chúng ta mới thành công. Ngược lại, bên cạnh còn có những thái độ học tập không tốt như: học để đối phó với thầy cô, học mà ỉ lại vào bạn bè mà bản thân không tự làm lấy. Qua đây mỗi người cần rút ra bài học cho bản thân: chúng ta cần có tinh thần ham học, say mê tìm tòi,
  17. giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức. Chủ động sáng tạo, độc lập trong học tập. Như vậy, mới có thể tiếp nhận đầy đủ kiến thức để vươn tới những ước mơ của mình. Học theo hình thức dự án STEAM học sinh buộc phải phát huy cao độ tinh thần tự học. Bởi lẽ để hoàn thành các dự án đòi hỏi người học phải say mê nghiên cứu tìm tòi. Để hoàn thành các nhiệm vụ học tập nhất là hoàn tất các sản phẩm người học phải đọc các tài liệu, tra cứu các thông tin, tự mày mò cách thức làm các thí nghiệm. Hơn nữa những sản phẩm học tập không phải làm một lần sẽ được ngay, người học phải chú tâm, kiên trì, tự chiến thắng chính mình.Trong các hình thức học tập, học theo dự án Steam thực sự phát huy tối đa khả năng tự học, đó là hướng giáo dục của xã hội thời công nghệ thông tin phát triển như vũ bão. Khi hướng dẫn học theo dự án các văn bản trong chương trình Ngữ văn 11 giáo viên cần đưa ra các vấn đề để học sinh nghiên cứu, tìm tòi. Các vấn đề đặt ra phải có tính tình huống, bám sát với thực tiễn phát huy tư duy của học sinh 7.1.2.3. Định hướng phương hướng liên môn Triết học duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Các sự vật hiện tượng tạo thành thế giới dù phong phú, đa dạng như thế nào thì chúng cũng chỉ là các dạng khác nhau của vật chất. Nhờ có tính thống nhất đó chúng không thể tồn tại tách rời, biệt lập mà tồn tại trên cơ sở tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau trên cơ sở mối liên hệ nhất định. Chính trên cơ sở đó triết học duy vật biện chứng khẳng định: “liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của các sự vật hiện tượng trên thế giới”. Giữa các bộ môn khoa học xã hội như: văn học, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, vũ đạo, có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau; thậm chí giữa các môn khoa học xã hội và các môn khoa học tự nhiên cũng có mối quan hệ lẫn nhau. Các sự vật hiện tượng trong thế giới này luôn có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, đôi khi sự thay đổi của sự vật hiện tượng này lại bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khác bởi vậy khi chúng ta đánh giá xem xét một vấn đề cần phải có cái nhìn toàn diện. Dạy học tích hợp liên môn là dạy những kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học. Chủ đề tích hợp liên môn là những vấn đề liên quan đến kiến thức của các môn học khác nhau. Tích hợp liên môn được xem như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học với một hệ thống những chủ đề xuyên suốt. Dạy học tích hợp nhằm giúp học sinh hình thành những kĩ năng tổng hợp kiến thức, kinh nghiệm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau từ đó hình thành những tri thức, kinh nghiệm mới, phát triển được những năng lực cần thiết nhất là những năng lực giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống.
  18. Với môn Ngữ văn, dạy học tích hợp liên môn là biện pháp tối ưu mang lại sự sinh động, hấp dẫn cho môn học. Bản thân môn Văn cũng là tổng hòa kiến thức của nhiều bộ môn khác nhau, trong văn học có kiến thức lịch sử, địa lí, văn hóa, khoa học nên việc dạy học liên môn với môn Văn là rất cần thiết và quan trọng. Dạy học theo hình thức dự án Steam lại càng cần đến tích hợp liên môn bởi lẽ nhờ cách tích hợp liên môn học sinh sẽ có được nhiều kiến thức tổng hợp và có những kĩ năng sống thực tế. Đồng thời nhờ đó học sinh sẽ khám phá sự thú vị của văn chương, học văn sẽ tích lũy được những kiến thức uyên thâm làm cho nhân sinh quan và thế giới quan được sâu sắc hơn. Khi hướng dẫn học sinh học văn bản trong chương trình Ngữ văn 11 giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm đến những kiến thức liên môn liên quan như: kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, kiến thức môn giáo dục công dân. Học sinh có thể liên hệ với các bộ môn hội họa để vẽ những bức tranh về hình tượng các nhân vật trong tác phẩm, học sinh có thể nghiên cứu các nhân vật viết lại kịch bản và học kĩ năng diễn xuất 7.1.2.4. Định hướng khả năng làm việc nhóm. Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng làm việc nhóm đang được khuyến khích ở hầu hết các lĩnh vực, xuất phát từ quan niệm “trí tuệ tập thể bao giờ cũng sáng suốt hơn trí tuệ của mỗi cá nhân”. Người ta coi các nhóm làm việc là nhân tố cơ bản tạo nên hiệu quả của vốn nhân lực trong một tổ chức. Nhưng làm thế nào để có kỹ năng làm việc nhóm thành thục nhằm phát huy triệt để khả năng của mỗi cá nhân và sự phối hợp khi hoạt động trên mọi phương diện? Đó chính là vấn đề đặt ra. Một cách hiểu khái quát nhất, nhóm là tập hợp các thành viên có số lượng từ hai người trở lên, có giao tiếp trực diện, có kỹ năng bổ sung cho nhau, có sự chia sẻ mối quan tâm hoặc mục đích chung. Hoạt động nhóm ngày càng trở thành một yêu cầu thiết yếu trong các tổ chức với mục tiêu để phân công công việc và phối hợp công việc. Và ngày nay, trong giáo dục, làm việc nhóm càng được coi trọng. Trong thực tế có những công việc mà một cá nhân không đủ khả năng giải quyết hoặc giải quyết hiệu quả không cao, vì thế, lựa chọn làm việc nhóm là sự phương pháp thực hiện công việc hợp lý nhất. Theo đó, mỗi thành viên trong nhóm sẽ tham gia đóng góp vào nội dung làm việc chung của nhóm để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ đối với vấn đề và yêu cầu công việc mà nhóm được giao. Mỗi thành viên khi tiếp nhận phần việc của mình sẽ buộc phải có sự tương tác với công việc của các thành viên khác trong nhóm. Phân công công việc không tạo nên những hoạt động độc lập mà thực chất là sự phân công phối hợp. Làm việc nhóm cũng để tăng cường quản lý và kiểm soát công việc, bởi vai trò và trách nhiệm của nhóm sẽ khiến các thành viên của nhóm phải có sự xem xét toàn diện công
  19. việc được giao. Đối với những công việc đòi hỏi phải có quyết định rõ ràng, làm việc nhóm sẽ giúp giải quyết vấn đề một cách tối ưu nhất, từ đó giúp tổ chức có những quyết định tốt nhất. Trong nhóm, hoạt động của mỗi thành viên sẽ được kiểm soát bằng những quy chế làm việc đã được cả nhóm thống nhất. Với tư cách là một cá nhân làm việc trong một nhóm, mỗi thành viên sẽ chịu sự quản lý của người phụ trách nhóm, điều chỉnh hành vi giao tiếp, giải quyết vấn đề theo khuôn khổ quy chế đã đề ra. Công việc, vì vậy, sẽ được tiến hành trôi chảy và đồng bộ, có sự phối hợp nhịp nhàng. Làm việc nhóm là dịp để mỗi cá nhân đóng góp ý tưởng với những phát kiến của mình. Những vấn đề do một cá nhân không thể giải quyết sẽ có sự tham gia đề xuất ý kiến, giải pháp của nhóm. Từ những ý kiến, quan điểm và giải pháp khác nhau, thông qua hoạt động nhóm sẽ thống nhất các nội dung, vấn đề về một mối, tránh được sự chủ quan, độc đoán. Quyết định cuối cùng của nhóm không bao giờ là của một thành viên bởi đó là thành quả làm việc của cả nhóm. Làm việc nhóm là quá trình thu nạp thông tin và các ý tưởng hiệu quả nhất. Mỗi thành viên trong quá trình làm việc tham gia đóng góp ý kiến cũng tức là cung cấp thông tin liên quan đến các vấn đề cần giải quyết. các thông tin được chia sẻ sẽ làm được bổ sung và làm phong phú nguồn tư liệu cần thiết phục vụ cho nội dung vấn đề nhóm cần giải quyết. Cũng chính trong quá trình làm viêc nhóm, các ý tưởng khác nhau sẽ được đề xuất, tạo nên sự đa dạng trong việc kiếm tìm các giải pháp cho vấn đề cần giải quyết. Nhờ đó nhóm có cơ hội lựa chọn nhiều hơn cho những quyết định cuối cùng. Thực chất của việc xử lý thông tin là trên cơ sở các nguồn dữ liệu, cứ liệu đã được cung cấp, nhóm sẽ phải lựa chọn những thông tin thiết yếu, liên quan trực tiếp đến vấn đề nhóm cần giải quyết. Việc xử lý thông tin sẽ do tập thể nhóm quyết định với cái nhìn đa chiều, đa diện và đảm bảo tính khách quan. Nguồn thông tin và các ý tưởng đa dạng đòi hỏi việc xử lý thông tin phải nhanh chóng và chuẩn xác. Sự tham gia của các thành viên trong nhóm thực chất hướng tới tiêu chí này. Một nhóm hiệu quả sẽ là nhóm có sự phối hợp chặt chẽ, tăng cường được sự tham gia của các thành viên trong nhóm, thậm chí là sự tham gia của những người ngoài nhóm theo sự thống nhất trao đổi, học hỏi của cả nhóm. Nhóm phối hợp tốt là nhóm phát huy được tối đa khả năng của các thành viên vì mục tiêu chung của nhóm. Giữa các thành viên có sự ăn ý, nhịp nhàng, hỗ trợ cùng giải quyết vấn đề. Nhóm phối hợp tốt là nhóm mà các thành viên đều tuân thủ theo những cam kết đã được thông qua trước cả nhóm, không có quan điểm cá nhân trong quyết định cuối cùng của nhóm. Làm việc nhóm sẽ tăng cường các mối quan hệ giao tiếp. Mọi ý kiến cá nhân đưa ra đều được xem xét trên quan điểm của cả nhóm, vì vậy, mọi ý kiến phải tìm kiếm được sự
  20. đồng thuận của các thành viên trong nhóm. Để thuyết phục các thành viên khác, những ý kiến, giải pháp đưa ra phải dựa trên sự thương thuyết với những luận điểm, luận cứ và luận chứng xác đáng. Nhờ đó kỹ năng đàm phán được phát huy. Mặt khác trong trường hợp các quan điểm trái chiều khi xuất hiện trong nhóm cũng sẽ được điều tiết bởi sự thống nhất cuối cùng của nhóm, tránh nảy sinh xung đột, nhất là xung đột cá nhân có thể xảy ra. Làm việc nhóm đáp ứng được nhu cầu quan hệ xã hội. Quá trình làm việc nhóm cũng là quá trình kết nối, tìm hiểu về nhau của các thành viên trong cùng một nhóm, đồng thời cũng là quá trình tự ý thức của bản thân mỗi người trong mối tương quan với các thành viên khác của nhóm. Mỗi thành viên nhóm có cơ hội bộc lộ năng lực, trình độ, thậm chí cá tính của mình, đồng thời cũng có sự nhìn nhận, đánh giá những biểu hiện của người khác trong nhóm, từ đó điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ, thậm chí cả tính cách cho phù hợp với tập thể nhóm. Nhận được sự giúp đỡ trong việc thực hiện mục tiêu cụ thể thông qua nhóm, mỗi cá nhân có cơ hội tự điều chỉnh mình trên cả phương diện giao tiếp, khả năng phối hợp và kiến thức, nhận được sự giúp đỡ trong việc thực hiện mục tiêu cụ thể. Thế mạnh trong khả năng và trình độ được phát huy, và bên cạnh đó những điểm yếu của mỗi cá nhân cũng sẽ được khắc phục. Nhóm cũng là nơi có thể chia sẻ, thông cảm và tìm được sự cộng hưởng khi cùng tạo nên một thành quả lao động cụ thể. Làm việc theo nhóm có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên hoạt động của tổ chức linh hoạt hơn trong mọi điều kiện khác nhau, kể cả trong bối cảnh biến đổi mạnh, nhờ đó nắm bắt cơ hội và giảm thiểu được nhiều nguy cơ nguy cơ. Ý thức về trách nhiệm cá nhân trong nhóm, thành quả công việc của nhóm ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân đã tạo nên sự đồng cảm giữa các thành viên trong nhóm. Các thành viên sẽ có chung niềm vui, nỗi buồn và những bài học quý giá trong và sau khi làm việc nhóm. Căn cứ vào những lợi ích trên, trong quá trình dạy học, giáo viên nên chia nhóm theo các vấn đề cho học sinh giải quyết. Học theo dự án STEAM kĩ năng làm việc nhóm luôn được đặt lên hàng đầu. Giáo viên có thể cho học sinh chọn nhóm theo sở thích. 7.1.2.5. Định hướng phát triển năng lực theo hướng phát triển năng khiếu Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội. Với những người có năng khiếu, có đầu óc sáng tạo, có tài năng có vai trò đặc biệt quan trọng. Tác giả Thân Nhân Trung từng viết “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi đi lên, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi đi xuống”. Người hiền tài có vai trò quyết định trong sự thịnh suy của một đất nước. Để có những nhân tài giúp cho đất nước ngành giáo dục cần quan tâm đến năng khiếu, tính sáng tạo và tài năng nhằm bồi dưỡng kịp thời. Ngay từ năm 1966, khi quốc hội bàn về cải cách giáo dục đã nêu rõ: “Đối với các em học sinh có năng khiếu cần phải có kế hoạch hướng dẫn riêng”. Khi nghiên cứu về năng