Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương Cacbohidrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương Cacbohidrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
xay_dung_va_su_dung_bai_tap_hoa_hoc_theo_tiep_can_pisa_trong.docx
Nội dung tài liệu: Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương Cacbohidrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG -------***------- SÁNG KIẾN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC CHƯƠNG CACBOHIDRAT NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH Nhóm tác giả: 1. Nguyễn Thị Hường - Giáo viên 2. Nguyễn Thị Trúc Vân – Phó hiệu trưởng Tổ: Hóa học Năm học: 2022 - 2023 Bắc Giang, tháng 3 năm 2023 -1-
- MẪU 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi1: Hội đồng sáng kiến trường THPT Chuyên Bắc Giang. Tôi (chúng tôi)2: Ngày tháng Chức Trình độ Họ và tên Nơi công tác năm sinh danh chuyên môn Nguyễn Thị Hường 27/7/10982 Trường THPT Giáo viên Thạc sỹ Chuyên Bắc Phó hiệu Nguyễn Thị Trúc Vân 1/1/1973 Thạc sỹ Giang trưởng 1. Là tác giả (nhóm tác giả) đề nghị xét công nhận sáng kiến: - Tên sáng kiến: Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương cacbohydrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. - Họ và tên (nếu là đại diện nhóm tác giả sáng kiến): Nguyễn Thị Hường - Điện thoại: 0961189363 - Email: Nthuong.cbg@bacgiang.edu.vn 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến3: Giáo dục và đào tạo 3. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: tháng 9/2022 4. Các tài liệu kèm theo: 4.1. Thuyết minh mô tả giải pháp và kết quả thực hiện sáng kiến: 2 cuốn 4.2. Quyết định công nhận sáng kiến: Quyết định số..../.....ngày /.../ của Hội đồng sáng kiến cấp trường. 4.3. Biên bản họp Hội đồng sáng kiến cấp trường. Bắc Giang, ngày... tháng... năm... Tác giả sáng kiến (hoặc đại diện nhóm tác giả sáng kiến) (Chữ ký và họ tên) Nguyễn Thị Hường Nguyễn Thị Trúc Vân 1 Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến. 2 Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến. -2-
- MỤC LỤC Nội dung Trang THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 4 1. Tên sáng kiến 4 2. Ngày biện pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4 3. Các thông tin cần bảo mật 4 4. Mô tả các biện pháp cũ thường làm 5 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến 7 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến 7 7. Nội dung 8 7.1. Thuyết minh biện pháp mới hoặc cải tiến 8 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến 9 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 11 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 15 PHỤ LỤC I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN 16 NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THÔNG QUA BÀI TẬP TIẾP CẬN PISA PHỤ LỤC II. HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG 2 CACBOHIDRAT HÓA 21 HỌC 12 TIẾP CẬN PISA PHỤ LỤC III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 35 PHỤ LỤC IV. ĐỀ KIỂM TRA SAU THỰC NGHIỆM VÀ NGÂN HÀNG 46 CÂU HỎI KIỂM TRA TRÊN K12ONLINE PHỤ LỤC V. PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN CỦA HS SAU THỰC NGHIỆM 62 PHỤ LỤC VI. KẾ HOẠCH BÀI DẠY VÀ ĐÁP ÁN HỆ THỐNG CÂU HỎI 64 TIẾP CẬN PISA PHỤ LỤC VII. VĂN BẢN XÁC NHẬN ỨNG DỤNG CỦA SÁNG KIẾN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 -3-
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương Cacbohidrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh”. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 16/9/2022 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không 4. Mô tả các biện pháp cũ thường làm (Nêu rõ tên biện pháp, tình trạng và nhược điểm, hạn chế của biện pháp cũ): Tháng 4 năm 2012, lần đầu tiên nước ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố cùng với hơn 65 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào một trong những chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất hiện nay, đó là PISA- (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Program for International Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và chỉ đạo nhằm đánh giá khả năng của học sinh ở khoảng độ tuổi 15 của các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD, về Toán, Khoa học và Đọc hiểu. Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia. Từ kết quả của cuộc khảo sát, PISA sẽ đưa ra các chỉ số đánh giá tính hiệu quả- chất lượng của hệ thống giáo dục mỗi nước tham gia, qua đó chính phủ các nước rút ra bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông của nước mình. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới được xây dựng đề ra mục tiêu làm thay đổi cách dạy, cách học, hướng đến việc phát triển cho học sinh không chỉ kiến thức mà còn tập trung phát triển về phẩm chất và năng lực của học sinh, chương trình hướng tới hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực như: Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực thực hành[1]... Với định hướng của chương trình mới thì bên cạnh việc học tập và rèn luyện của học sinh trên lớp thì cần tăng cường hoạt động tập thể, sinh hoạt xã hội mang tính trải nghiệm và sáng tạo. Một điểm mới đáng chú ý là chương trình GDPT đặt ra yêu cầu phát triển học sinh theo hướng năng động hơn, có tư duy độc lập, có khả năng giải quyết vấn đề nên chương trình lần này mở rộng đến các hoạt động xã hội có hướng dẫn đối với học sinh. Với những định hương đổi mới của chương trình GDPT thì việc thay đổi các hình thức dạy học hay phương pháp dạy học là nhu cầu cấp thiết để hoàn thành được những yêu cầu mới. Hóa học là một môn khoa học có sự gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm. -4-
- Việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn là cấp thiết và mang tính thời sự. Hóa học cũng là môn nằm trong nhóm môn khoa học có trong nội dung đánh giá PISA qua đó đánh giá về năng lực khoa học của học sinh. Thực tế cho thấy những dạng bài tập hay câu hỏi hóa học mà giáo viên thường sử dụng cho học sinh hiện nay còn nặng kiến thức hàn lâm mà chưa chú trọng đến việc học sinh ứng dụng các kiến thức, kĩ năng trong hóa học, khả năng phân tích, lí giải hay giải quyết các vấn đề học tập và thực tiễn. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài viết liên quan đến việc sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA như: - Luận văn thạc sĩ: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học 10 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT” của Hoàng Thị Phương – chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học môn Hóa học K21 – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013. - Luận văn thạc sĩ: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học 11 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh” của Ngô Thị Chinh-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2014. - Luận văn thạc sĩ: “Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học phần chất hữu cơ chứa oxi-Hóa học 11 trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề” của Nguyễn Thị Hường- Trường đại học giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội, 2015. - Luận văn thạc sĩ: “Xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần dẫn xuất hiđrocacbon theo hướng tiếp cận PISA nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa học cho học sinh THPT” của Nguyễn Phú Vi-Trường Đại học Sư phạm Huế, Thừa Thiên Huế, 2017. - Luận văn thạc sĩ: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh trong dạy học hóa học chương sắt và một số kim loại quan trọng lớp 12 thông qua bài tập hóa học” của Đặng Trường Giang-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội, 2018. - Bài báo nghiên cứu khoa học, Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông qua hệ thống bài tập thực tiễn phần kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm, của Đồng Thanh Lân- Trần Trung Ninh, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt tháng 9/2020, Trang 57-60. - Luận án tiến sĩ: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực khoa học tự nhiên theo tiếp cận PISA cho học sinh THCS” của Nguyễn Thị Diễm Hằng- Trường Đại học Vinh, 2021. Luận án đã giới thiệu một hệ thống bài tập đa dạng, tiếp cận PISA nhằm phát triển năng lực khoa học tự nhiên cho học sinh THCS. Tuy nhiên, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương 2- cacbohydrat- Hóa học 12. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Thứ nhất: xuất phát từ chủ trương đổi mới giáo dục để theo kịp với giáo dục các nước tiên tiến. -5-
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi". Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới. Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Thứ hai: xuất phát từ thực tiễn đổi mới phương pháp khi tổ chức hoạt động dạy học. Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã được triển khai từ hơn 30 năm qua. Hầu hết giáo viên hiện nay đã được trang bị lí luận về các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm cũng như quá trình bồi dưỡng, tập huấn hằng năm. Đặc biệt năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành Công văn Số: 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng. Thực hiện nội dung Công văn này Trường THPT Chuyên Bắc Giang đã thực hiện nghiêm túc nội dung chương trình giáo dục THPT hiện hành, đồng thời có chỉ đạo tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh tiếp cận đổi mới giáo dục theo Thông tư 32. Thứ ba: Hiện nay có nhiều trường đại học sử dụng bài thi đánh giá năng lực, hay đánh giá tư duy có sử dụng các câu hỏi kiểu câi hỏi Pisa ví dụ như: Đại Học Bách Khoa, đại học QGHN, đại học Quốc gia TP HCM, các trường Công an nhân dân... để tuyển sinh đầu vào. Chính vì vậy việc, cho học sinh tiếp cận các câu hỏi đánh giá năng lực Pisa là cần thiết. Thứ tư: xuất phát từ yêu cầu của bản thân khi được phân công nhiệm vụ giảng dạy -6-
- môn Hoá cho các lớp 12 chuyên xã hội và các lớp 12 chuyên Toán, Hoá, năm học 2022- 2023, tôi luôn trăn trở làm thế nào để HS hứng thú, tự giác học tập, có khát vọng chiếm lĩnh nội dung học tập? Làm thế nào để HS tích cực, chủ động huy động kiến thức, kĩ năng hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc giải quyết những tình huống trong thực tiễn? Đánh giá HS như thế nào để GV thấy được sự tiến bộ của học sinh? Ví dụ, dựa vào kiến thức về chương Cacbohydrat để giải thích tại sao người ta dùng chúng làm lương thực thực phẩm, sản xuất đồ mỹ nghệ, dược phẩm. Như đã nói ở trên đã có những đề tài nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng các bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học, nhưng chưa có nhiều tài liệu thiết bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương 2 cacbohydrat- Hóa học 12. Việc xây dựng và sử dụng bộ câu hỏi này sẽ giúp phát huy được năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, đưa lý thuyết gắn liền với thực tiễn, đồng thời cũng là một nguồn tài liệu tham khảo giúp cho giáo viên có những ý tưởng mới trong dạy học chương cacbohydrat. Do vậy việc áp dụng giải pháp này vào việc giảng dạy môn Hóa học ở chương trình THPT là rất cần thiết. Xuất phát từ lí do trên chúng tôi đã mạnh dạn xây dựng và thử nghiệm sáng kiến: “Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương cacbohydrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh” ở một số lớp 12 ở trường mình và ở một số trường trong tỉnh bước đầu đã có kết quả nhất định. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến (Nêu rõ mục đích khắc phục các nhược điểm của biện pháp cũ hoặc mục đích của biện pháp mới do mình tạo ra): Sáng kiến được thực hiện với các mục đích như sau: Thứ nhất: Tổng quan về PISA, cách thiết kế câu hỏi PISA. Thứ hai: Xây dựng một số bài tập hóa học định hướng PISA và xây dựng giáo án dạy học tích cực có sử dụng câu hỏi định hướng PISA trong dạy học hóa học phần cacbohidrat Hóa học 1. Thứ ba: Triển khai dạy và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá được hiệu quả sử dụng của giải pháp, từ đó đưa ra được những hướng phát triển tiếp theo cho giải pháp. Thư tư: Tạo ngân hàng câu hỏi chương 2-Cacbohidrat, ma trận đề và đề trên K12 online để kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh. Việc triển khai thực hiện giải pháp này trong dạy học môn Hóa học nhằm khuyến khích được tinh thần tự học của học sinh; tạo hứng thú trong học tập; phát huy tính tự giác, hợp tác, chủ động, sáng tạo và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của học sinh. Từ đó học sinh có thể hình thành và phát triển nhiều năng lực, phẩm chất cần thiết thông qua việc nghiên cứu các vấn đề thực tiễn khác trong môn Hóa học. -7-
- 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh biện pháp mới hoặc cải tiến Việc thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận năng lực nằm trong lộ trình đổi mới giáo dục theo Thông tư 32 của Bộ GD&ĐT1, bắt đầu thực hiện từ năm học 2022-2023 đối với lớp 10 THPT; để giáo viên không bỡ ngỡ Bộ GD&ĐT xây dựng Kế hoạch bồi dướng, tập huấn cho 100% giáo viên với 09 mođun, tính đến hết tháng 3/2022 mới bồi dưỡng hết 05 mođun1. Do đó để có một Kế hoạch dạy học hình thành năng lực cho HS tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới đến thời điểm này chưa có tài liệu chuẩn. Chính vì lẽ đó, chúng tôi khẳng định giải pháp chúng tôi đưa ra rất cần thiết, giúp giáo viên có tài liệu tham khảo khi xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng hình thành năng lực cho học sinh đáp ứng với sự thay đổi của giáo dục. Những điểm mới trong sáng kiến thể hiện ở nội dung sau: Thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học. - Trình bày khái niệm năng lực, năng lực VDKTKN và chương trình, nội dung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. - Khái niệm bài tập hóa học, ý nghĩa của BTHH và nêu ra một số định hướng trong việc xây dựng BTHH mới. - Giới thiệu những nét chung về PISA (Chi tiết tại phụ lục I) Thứ hai: Xây dựng bộ bài tập hóa học theo tiếp cận PISA chương cacbohydrat - Sắp xếp, hoàn thiện hệ thống câu hỏi và bài tập một cách khoa học theo các mức độ biết, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo kiến thức. Đưa ra hệ thống bài tập tiếp cận PISA bám sát nội dung chương trình SGK, đảm bảo phù hợp với trình độ kiến thức của HS. Trong quá trình hoàn thiện có thể tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp để thực hiện tốt khâu này. Việc chăm chút cho bài tập ở khâu trình bày, chỉnh sửa các lỗi chính tả hoặc các chi tiết chưa hợp lí sẽ làm tăng giá trị của bài tập khi sử dụng. - Thử nghiệm áp dụng BTHH đã thiết kế trên đối tượng HS thực nghiệm để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực tế của kiến thức cũng như độ khó, tính ưu việt, tính khả thi và khả năng áp dụng của bài tập. - Bộ bài tập câu hỏi tiếp cận PISA đáp ứng được yêu cầu đổi mới và xu thế phát triển của giáo dục. Đặc biệt hiện nay nhiều trường đại học đã sử dụng bộ câu hỏi như vậy để thi đánh giá năng lực và tư duy để tuyển sinh. (Chi tiết tại phụ lục II) Thứ ba: Thực nghiệm sư phạm - Xin ý kiến một số GV trong tổ Hóa học và trao đổi với GV dạy thực nghiệm về ý đồ sư phạm của các đợt thực nghiệm để có sự thống nhất về nội dung và phương pháp giảng dạy. - Tại các lớp thực nghiệm: GV dạy theo giáo án được thiết kế sẽ sử dụng một số bài tập theo tiếp cận PISA trong hệ thống bài tập đã tuyển chọn và xây dựng ở sáng kiến với kiểu bài: bài mới và bài luyện tập, ôn tập, giao bài tập về nhà, bài kiểm tra, -8-
- đánh giá. Các tiết dạy theo đúng tiến độ quy định chương trình của Bộ Giáo dục đã ban hành. - Tại các lớp đối chứng: GV dạy theo phương pháp thông thường với hệ thống bài tập có sẵn trong SGK và SBT hiện hành, không sử dụng hệ thống bài tập của sáng kiến. - Sau quá trình thực nghiệm, tiến hành kiểm tra đồng thời lớp đối chứng và lớp thực nghiệm để xác định hiệu quả tính khả thi của phương án thực nghiệm. Việc kiểm tra, đánh giá qua bài kiểm tra. Thứ tư: Tạo bộ câu hỏi, bài tập trong sáng kiến dùng làm nguồn câu hỏi để làm đề kiểm tra đánh giá năng lực học sinh trong các kì kiểm tra đánh giá năng lực. Thứ năm: Tạo được ngân hàng câu hỏi, ma trận đề, đề kiểm tra đánh giá năng lực để học sinh có thể làm kiểm tra trực tiếp trên K12 online, đồng thời có thể in đề ra làm trực tiếp. Tạo được nhiều mã đề khác nhau một cách dễ dàng và ngân hàng câu hỏi này có thể chia sẽ dễ dàng cho các đồng nghiệp. Kết quả của sáng kiến: + Biên soạn được hệ thống gồm 11 bài tập tiếp cận PISA chương cacbohydrat. + Biên soạn ngân hàng câu hỏi trên K12 online: gồm 46 câu hỏi trắc nghiệm, được chia thành các mức độ khác nhau: Nhận biết (20 câu), thông hiểu (14 câu), vận dụng (10 câu), vận dụng cao (2 câu).Từ đó có thể tạo ra nhiều đề khác nhau với ma trận đề mong muốn. + Tạo các đề kiểm tra đánh giá năng lực liên quan đến kiến thức của chương 2: Cacbohidrat hướng câu hỏi tiếp cận PISA trên K12oline + Đã thực nghiệm sư phạm trên 3 trường trong thành phố Bắc Giang và 4 trường tại các huyện trên địa bàn tỉnh. Thông qua bài học và đề kiểm tra đã đánh gia được mức độ hứng thú của học sinh với môn hoá học và đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh đồng thời đánh giá được khả năng vận dụng kiến thức của bài học vào giải quyết các vấn đề thực tế. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Sáng kiến đã được áp dụng giảng dạy cho Học sinh lớp 12 học chương trình cơ bản, kết quả khảo sát cho thấy phương pháp giúp nâng cao năng lực nhận thức của học sinh. Chính vì vậy, tôi đã áp sáng kiến này ở và các lớp 12 chuyên Hoá, 12 chuyên Toán, 12 chuyên Sử -Địa, 12 chuyên Pháp của trường chuyên Bắc Giang. (Chi tiết tại phụ lục III) 1 Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường 2 Mođun 1: Tìm hiểu Chương trình giáo dục phổ thông mới; mođun 2: Phương pháp và kỹ thuật dạy học; Mođun 3: Kiểm tra đánh giá mới ; Mođun 4: Xây dựng dạy học và giáo dục theo hướng phát triển PC, NL học sinh; Modun 5: Tư vấn, hỗ trợ học sinh trong hoạt động dạy học, giáo dục. -9-
- Đồng thời sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả trong năm học 2022-2023 ở một số đơn vị tổ chức trong tỉnh ở bảng sau: Bảng 1: Danh sách các trường đã áp dụng sáng kiến Stt Đơn vị thực nghiệm 1 Tên tổ chức: Trường THPT Giáp Hải Địa chỉ: Xã Tân Mỹ - TP. Bắc Giang - Bắc Giang Điện thoại: 0204 3551 299 Email: thptgiaphai@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Nguyễn Văn Ninh Lớp 12A3, 12A10 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) 2 Tên tổ chức: Trường THPT Ngô Sĩ Liên Địa chỉ: 143 Ngô Gia Tự - P. Ngô Quyền- Tp. Bắc Giang - Bắc Giang Điện thoại: 02043854213 Email: thptngosilien@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Lưu Văn Xuân Lớp 12A1, 12A3 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) 3 Tên tổ chức: Trường THPT Việt Yên số 2 Địa chỉ: xã Tư Lạn-Việt Yên- Bắc Giang Điện thoại: 0204 3874 002 Email: thptvietyen2@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Nguyễn Văn Hà Lớp 12A5, 12A6 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) 4 Tên tổ chức: Trường THPT Lạng Giang 2 Địa chỉ: TT Kép - Lạng Giang- Bắc Giang Điện thoại: 02043880649 Email: thptlanggiang2@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Trịnh Thu Huyền Lớp 12A1, 12A10 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) 5 Tên tổ chức: Trường THPT Lục Ngạn số 1 Địa chỉ: TDP Trần Phú, TT Chũ, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang Điện thoại: 0204 3882 245 Email: thptlucngan@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Ngô Quang Khải Lớp 12A9, 12A11 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) 6 Tên tổ chức: Trường THPT Yên Dũng 3 Địa chỉ: Thôn Đông- Cảnh Thuỵ- Yên Dũng - Bắc Giang Điện thoại: 02403861559 -10-
- Email: thptyendung3@bacgiang.edu.vn Họ tên người đứng đầu tổ chức: Trần Đình Nam Lớp 12A2, 12A3 (Kèm văn bản xác nhận ứng dụng sáng kiến – Phụ lục VII) Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá đã được ban giám hiệu các trường xác nhận. (Chi tiết tại phụ lục số VII) Với các kết quả đạt được, sáng kiến có thể nhân rộng và áp dụng cho các trường THPT trên toàn tỉnh Bắc Giang và các trường THPT trên toàn quốc. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của biện pháp (Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến lợi ích có thể thu được do áp dụng biện pháp trong đơn kể cả áp dụng thử tại cơ sở): Sau khi áp dụng các giải pháp trong sáng kiến tại trường THPT chuyên Bắc Giang và 6 trường THPT trong địa bàn thành phố, tỉnh Bắc Giang, hiệu quả của sáng kiến đạt được như sau: 7.3.1. Về lợi ích kinh tế Những ưu điểm khi áp dụng giải pháp vào thực tiễn dạy học môn Hóa học: - Dạy học gắn với đời sống nếu được thực hiện sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh gần gũi với đời thường để khoa học không còn xa vời với đời sống mà khoa học có ngay trong đời sống của con người. Đây là bước đầu giúp hình thành được cơ sở cho việc biên soạn lại bộ sách giáo khoa mới phục vụ nhu cầu tiếp cận kiến thức sâu rộng gắn liền với thực tiễn của học sinh. - Giải pháp này nếu được nhân rộng cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các giáo viên khác nên các giáo viên sẽ không mất chi phí mua tài liệu tham khảo. - Với ngân hàng câu hỏi tạo ra giúp giáo viên tạo đề kiểm tra đánh giá thuận lợi: phù hợp cả hình thức kiểm tra trực tiếp hay online. - Nhờ đó tiếp kiệm được rất nhiều thòi gian và kinh phí. 7.3.2. Về lợi ích xã hội - Áp dụng giải pháp cung cấp cho học sinh những kỹ năng mềm như giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng cộng tác, khả năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề tạo cho học sinh một sân chơi trong môn học, giúp học sinh tăng hứng thú trong môn học. Khi áp dụng giải pháp này, lượng học sinh có hứng thú, yêu thích môn Hóa học sẽ tăng lên, tăng tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập môn Hóa học ở trường THPT. Sự chuyển biến tích cực đó về thái độ học tập đã đóng góp một phần quan trọng giúp tăng kết quả học tập và rèn luyện của học sinh với môn Hoá học. Để minh chứng điều này tôi tiến hành phân tích kết quả bài kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng qua bài kiểm tra 25 phút (Nội dung đề kiểm tra 25 phút: Phụ lục IV), kết quả được thống kê trong các bảng sau: Bảng thống kê điểm kiểm tra 25 phút của các lớp sau khi học xong bài học a) Tại trường THPT chuyên Bắc Giang -11-
- + Lớp 12 Sử- Địa, 12 Pháp Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 TN 34 0 0 0 0 0 0 4 8 10 12 (12 S-Đ) % 0 0 0 0 0 0 11,77 23,53 29,41 35,29 ĐC 34 0 0 0 0 0 2 13 8 8 4 (12 Pháp) % 0 0 0 0 0 5,71 37,14 22,86 22,86 11,43 Lớp 12 Hoá, 12 Toán Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 TN 34 0 0 0 0 0 0 0 7 10 17 (12 Hoá) % 0 0 0 0 0 0 11,77 20,59 29,41 50,00 ĐC 35 0 0 0 0 0 0 5 9 9 12 (12 Toán) % 0 0 0 0 0 0 14,29 25,71 25,71 34,29 b) Tại trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Giang + Tại trường THPT Giáp Hải Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 43 0 0 0 0 0 6 15 12 7 3 TN(12A10) % 0 0 0 0 0 13,95 34,88 27,91 16,28 6.98 39 0 0 0 3 6 6 10 10 4 0 ĐC (12A3) % 0 0 0 7,62 15,38 15,38 25,64 25,64 10,34 0 + Tại trường THPT Ngô Sĩ Liên Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 41 0 0 0 0 0 5 10 15 8 3 TN(12A1) % 0 0 0 0 0 12,20 24,39 36,58 19,51 7,32 40 0 0 0 0 8 8 8 10 6 0 ĐC(12A3) % 0 0 0 0 20,0 20,0 20,0 25,0 15,0 0 -12-
- c) Tại trường THPT trên địa bàn các huyện khác thuộc tỉnh Bắc Giang + Tại trường THPT Việt Yên số 2, huyện Việt Yên Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 34 0 0 0 0 0 4 10 9 8 3 TN(12A5) % 0 0 0 0 0 11,76 29,41 26,48 23,53 8,82 33 0 0 0 0 3 6 10 9 5 0 ĐC(12A6) % 0 0 0 0 9,09 18,18 30,30 27,28 15,15 0 + Tại trường THPT Lạng Giang 2, huyện Lạng Giang Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 45 0 0 0 0 2 5 10 15 8 5 TN(12A9) % 0 0 0 0 4,44 11,12 22,22 33,33 17,77 11,12 44 0 0 0 1 6 10 10 12 5 0 ĐC(12A11) % 0 0 0 2,27 13,64 22,72 22,72 26,28 11,37 0 + Tại trường THPT Lục Ngạn số 1, huyện Lục Ngạn Sĩ Số HS đạt điểm Xi Lớp số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 42 0 0 0 0 0 5 11 15 8 3 TN(12A10) % 0 0 0 0 0 11,90 26,19 35,72 19.05 7.14 44 0 0 0 0 7 10 10 12 5 0 ĐC(12A1) % 0 0 0 0 15,91 22,72 22,72 26,28 11,37 0 + Tại trường THPT Yên Dũng số 3, huyện Yên Dũng Sĩ Số HS đạt điểm X Lớp i số/% 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 45 0 0 0 0 0 5 5 18 9 8 TN(12A2) % 0 0 0 0 0 11,11 11,11 40,0 20,0 17,78 44 0 0 0 0 5 5 15 14 5 0 ĐC(12A3) % 0 0 0 0 11,36 11,36 34,10 31,82 11,36 0 Từ số liệu bảng trên cho thấy, kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm (TN) thu được điểm khá giỏi chiếm tỉ lệ cao. Trong đó tỉ lệ HS đạt điểm giỏi cao vượt trội. -13-
- Để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề giáo viên đã đưa ra một vấn đề cho hai lớp tiến hành và quan sát quá trình làm việc của học sinh hai lớp để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của hai lớp. Kết quả thu được lớp thực nghiệm có năng lực giải quyết vấn đề tốt hơn. Kết quả đánh giá thông qua quan sát năng lực giải quyết vấn đề (Phụ lục III) - Giải pháp này cũng là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp giáo viên môn Hóa học trong toàn tỉnh nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới PPDH phù hợp với yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, đóng góp hiệu quả cho công tác giáo dục môn Hóa học ở trường THPT. - Giải pháp thực sự phù hợp với việc đổi mới giáo dục, đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 là dạy học phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Như vậy: hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến “Xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo tiếp cận PISA trong dạy học hóa học chương cacbohydrat nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh” là rất rõ ràng. Trong điều kiện hiện nay việc tổ chức hoạt động dạy học theo chủ đề có thể áp dụng rộng rãi và mang tính khả thi. Sáng kiến góp phần thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Sáng kiến góp phần giáo dục toàn diện, nâng cao hứng thú học tập, hình thành và phát triên năng lực, phẩm chất cho học sinh, kết nối trường học với cộng đồng. Sáng kiến của tôi đã được tổ chuyên môn đi dự giờ và đánh giá có hiệu quả: (1) Đạt được mục tiêu biện pháp đã đặt ra là tăng sự hứng thú học tập đối với bộ môn Hoá học và góp phần giúp phát triển năng lực, phẩm chất học sinh; (2) Giải pháp đã sử dụng phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; (3) Phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện của nhà trường; (4) Góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh. Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng với sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền./. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến (Chữ ký dấu) (Chữ ký và họ tên) Nguyễn Thị Hường Nguyễn Trúc Vân -14-
- DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ tương ứng 1 GV Giáo viên 2 HS Học sinh 3 ĐHSP Đại học sư phạm 3 BTHH Bài tập hóa học 4 THPT Trung học phổ thông 5 PPDH Phương pháp dạy học 6 TNSP Thực nghiệm sư phạm 7 LĐC Lớp đối chứng 8 LTN Lớp thực nghiệm 9 TN Thực nghiệm 10 ĐC Đối chứng 11 NXB Nhà xuất bản 12 VDKTKN Vận dụng kiến thức, kĩ năng 13 NLVDKTKN Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng 14 GQVĐ Giải quyết vấn đề 15 SGK Sách giáo khoa 16 SBT Sách bài tập 17 SKKN Sáng kiến kinh nghiệm -15-
- PHỤ LỤC I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ THÔNG QUA BÀI TẬP TIẾP CẬN PISA 1.1. Tổng quan về PISA 1.1.1. PISA là gì? Chương trình Đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment- PISA) là một khảo sát quốc tế do tổ chức OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development) đề xuất để đánh giá khả năng của học sinh độ tuổi 15 các nước và vùng lãnh thổ trong và ngoài OECD về toán, khoa học và đọc hiểu. Chương trình được thực hiện từ năm 2000 và cứ 3 năm lặp lại một lần. 1.1.2. Mục đích của PISA Mục tiêu tổng quát của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Ngoài ra chương trình đánh giá PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau: (1) Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Toán học và Khoa học của học sinh ở độ tuổi 15. (2) Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh. (3) Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh. 1.1.3. Đặc điểm của PISA a) Quy mô của PISA rất lớn và có tính toàn cầu. Qua 5 cuộc khảo sát đánh giá, ngoài các nước thuộc khối OECD còn có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ là đối tác của khối OECD đăng ký tham gia. b) PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm 1 lần) tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản. c) Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. d) PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau: + Chính sách công (public policy). Các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và phụ huynh đều muốn có câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như: “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa ?”, “Phải chăng một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác ?” + Hiểu biết phổ thông (literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA chú trọng việc đánh giá về các năng lực của HS trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản vào các tình huống thực tiễn. -16-
- Ngoài ra còn xem xét đánh giá khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu quả các kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách HS xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề. + Học suốt đời (lifelong learning): HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và kỹ năng phổ thông mà còn có cả ý thức về động cơ học tập và cách học. Do đó PISA sẽ vừa khảo sát kỹ năng của HS về Đọc hiểu, Toán và Khoa học vừa khảo sát HS về cả động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiến lược học tập. [16] 1.1.4. Năng lực được đánh giá trong PISA PISA tập trung vào đánh giá 3 mảng năng lực chính: Năng lực toán học phổ thông (mathematical literacy); Năng lực đọc hiểu phổ thông (reading literacy); Năng lực khoa học phổ thông (scientific literacy). Đây là các năng lực cần thiết trong cuộc sống của mỗi người, được hình thành và phát triển từ khi là HS và cho đến suốt đời. Các năng lực được đánh giá trong PISA qua các kì như sau: Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2000 2003 2006 2009 2012 2015 2018 Đọc hiểu Đọc hiểu Đọc hiểu Đọc hiểu Đọc hiểu Đọc hiểu Đọc hiểu Toán học Toán học Toán học Toán học Toán học Toán học Toán học Khoa học Khoa học Khoa học Khoa học Khoa học Khoa học Khoa học Giải Giải Giải Giải Giải quyết vấn quyết vấn quyết vấn quyết vấn quyết vấn đề đề đề đề đề Năng lực Năng lực Năng lực Năng lực tài chính tài chính tài chính tài chính Năng lực Năng lực Năng lực sử dụng sử dụng sử dụng máy tính máy tính máy tính Năng lực công dân toàn cầu a) Năng lực toán học phổ thông (mathematical literacy): Khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; Vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt. b) Năng lực đọc hiểu phổ thông (reading literacy): năng lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội. c) Năng lực khoa học phổ thông (scientific literacy): năng lực khoa học được đánh giá thường xuyên trong các chu kì của PISA. Thuật ngữ “năng lực khoa học” thể -17-
- hiện khả năng bao quát gồm ba năng lực khoa học cụ thể: Xác định các vấn đề khoa học; Giải thích các hiện tượng theo khoa học; Sử dụng bằng chứng khoa học. 1.1.5. Cấu trúc bài tập trong đề thi của PISA Năng lực phổ thông của PISA được đánh giá qua 1 cluster là 1 phần thi 30 phút, gồm 1 chuỗi các unit (bài tập), 1 unit bao gồm phần dẫn (common stimulus) kèm theo 1 bộ các item liên quan, mỗi item là một câu hỏi/ nhiệm vụ được mã hóa riêng lẻ. Việc cho điểm của các câu trong một unit là độc lập. Mỗi unit gồm 4 phần: Phần dẫn; Phần câu hỏi; Các phương án trả lời; Mã hóa. Phần dẫn (common stimulus) có thể trình bày dưới dạng chữ, bảng, biểu đồ, nhằm thiết lập ngữ cảnh chung cho bộ các item liên quan. Các ngữ cảnh được lựa chọn dựa trên mối quan tâm và cuộc sống của HS, phải mang tính xác thực, khuyến khích đề cập đến khái niệm, kiến thức, quy trình được đánh giá. Bối cảnh, câu hỏi, câu trả lời phải nằm trong khả năng của HS. Ngôn ngữ dễ hiểu, trong sáng để HS có thể hiểu tài liệu và câu hỏi, nội dung phải đạt các yêu cầu sau: Gần gũi với HS ở các nước, thu hút được mối quan tâm của HS, có thể đánh giá được các khái niệm và phương pháp khoa học. Phần câu hỏi có các đặc điểm sau: Câu hỏi được lựa chọn phải mới, hay và có sức hấp dẫn với HS, cho phép đánh giá kiến thức về một khái niệm, quy trình trong một câu hỏi. Tất cả các phần trong câu hỏi phải liên quan đến cùng một khái niệm hoặc quy trình, phải liên quan đến bối cảnh. Câu hỏi phải rõ ràng, không mơ hồ, dẫn dắt để các câu trả lời của HS có thể rơi vào các câu trả lời tiêu chuẩn (đáp án). Đối với đọc hiểu thì câu hỏi phải là một câu “hưởng ứng” văn bản. Các kiểu câu hỏi được sử dụng (trong các UNIT): - Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (Multiple choice); - Câu hỏi Có – Không, Đúng – Sai phức hợp (Yes – No; True – False complex); - Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời (dựa trên những trả lời có sẵn) (Close – constructed response question); - Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn (Short response question); - Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài (khi chấm sẽ phải tách ra từng phần để cho điểm) (Open – constructed` response question); 1.2. Dạy học giải quyết vấn đề Theo giáo dục học, dạy học GQVĐ là đặt HS vào vị trí nhà nghiên cứu. “Chính sự lôi cuốn của vấn đề học tập nghiên cứu” đã làm hoạt động hóa nhận thức của HS, rèn luyện ý chí và khả năng hoạt động cho HS. Dạy học giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để GQVĐ và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Quy trình dạy học theo phương pháp dạy học GQVĐ: Bước 1: Nhận biết vấn đề- Đưa ra vấn đề: - Tạo tình huống có vấn đề. - Trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, giải thích và chính xác hóa để hiểu đúng tình huống và nhận biết được vấn đề. -18-
- - Phát biểu vấn đề: vấn đề cần được trình bày rõ ràng và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó. Bước 2: Nghiên cứu tìm các phương án giải quyết. Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để GQVĐ. Để tìm các phương án GQVĐ cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết các vấn đề tương tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra được cần sắp xếp hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề. - Phân tích vấn đề, làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. - Xây dựng các giả thuyết về vấn đề đặt ra theo các hướng khác nhau. - Lập kế hoạch GQVĐ. - Đề xuất các hướng giải quyết có thể điều chỉnh thậm chí bỏ và chuyển hướng khi cần thiết. Bước 3: Giải quyết vấn đề. - Thực hiện kế hoạch GQVĐ. Kiểm tra các giả thuyết bằng các phương pháp khác nhau. Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải. - Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải. Trong bước này cần quyết định phương án GQVĐ. Các phương án giải quyết vấn đề đã được tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc GQVĐ hay không. Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu việc kiểm tra các phương án đã đề xuất đưa đến kết quả là không GQVĐ được thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương án giải quyết mới. Khi đã quyết định được phương án thích hợp giải quyết được vấn đề tức là đã kết thúc việc GQVĐ. Bước 4: Kết luận. - Thảo luận về các kết quả thu được và đánh giá. - Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu. - Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể. - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả. - Phát biểu kết luận. - Cuối cùng là vận dụng vào tình huống mới. 1.3. Sử dụng bộ câu hỏi tiếp cận PISA trong môn Hóa học 1.3.1. Tác động của việc sử dụng câu hỏi tiếp cận PISA trong dạy học môn Hóa học Trong chương trình giáo dục phổ thông mới thì với môn Hóa học là môn học có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm. Hoá học cũng là môn học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu của hoá học được ứng dụng vào các ngành vật liệu, năng lượng, y dược, công nghệ sinh học, nông - lâm - ngư nghiệp và nhiều lĩnh vực khác. Chính vì vậy việc kết hợp giữa việc học lí thuyết và thực tiễn sẽ mang lại hiệu quả trong dạy học hóa học, kích thích sự tìm tòi, khám phá khoa học của học sinh, làm cho môn học trở nên gần gũi và tăng được hứng thú của học sinh trong môn học. -19-
- Với quan điểm xây dựng chương trình Hóa học đảm bảo với đặc thù môn học thì định hướng với môn Hóa học trong chương trình GDPT 2018 là chương trình môn Hoá học đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú trọng trang bị các khái niệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ, đặc biệt là giúp học sinh có kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng vận dụng các tri thức hoá học vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống. Dựa trên những đặc thù của môn học thì mỗi giáo viên khi giảng dạy để môn học này trở nên thú vị và dễ hiểu hơn, trong chương trình giảng dạy cần lồng ghép khéo léo lý thuyết và thực tiễn, khiến học sinh có thể vận dụng các kiến thức học được vào thực tế. Điều này sẽ khiến môn học tưởng như khô khan này trở nên gần gũi và đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức và việc sử dụng các câu hỏi tiếp cận PISA sẽ mang phát triển được nhiều năng lục của học sinh như năng lực khoa học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực đọc và tìm kiếm tài liệu. Như vậy với những đặc thù bộ môn và những định hướng đổi mới trong dạy học thì việc áp các câu hỏi tiếp cận PISA vào dạy học môn Hóa học sẽ mang lại hiệu quả cao trong môn học. Đối với các dạng câu hỏi và BTHH theo tiếp cận PISA thì thực tế GV vẫn có sử dụng một số dạng câu hỏi và bài tập, tuy vậy còn rất nhiều hạn chế. Tôi nhận thấy một số khó khăn mà giáo viên hay gặp phải như sau: Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hạn chế, hình thức thi cử còn nặng kiến thức hàn lâm. Ngoài ra nguồn tài liệu tham khảo còn ít, GV cần nhiều thời gian để soạn bộ câu hỏi chất lượng. Một số GV gặp khó khăn trong việc xây dựng các bài tập/câu hỏi tiếp cận PISA. -20-

