Đề thi thử THPT QG Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)

doc 7 trang Gia Hân 07/04/2026 80
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử THPT QG Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docde_thi_thu_thpt_qg_ngu_van_11_lan_1_nam_hoc_2015_2016_truong.doc

Nội dung tài liệu: Đề thi thử THPT QG Ngữ văn 11 (Lần 1) - Năm học 2015-2016 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)

  1. SỞ GD&ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPTQUỐC GIA LẦN 1 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN NĂM HỌC 2015 - 2016 Môn: NGỮ VĂN 11 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi ỨNG PHÓ VÀ SẺ CHIA Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi-rút Ê-bô-la ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì Ê-bô-la. Tại Li-bê-ri- a, cuộc bầu cử Thượng viện phải hủy bỏ do Ê-bô-la “tác quái”. Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn nạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu tới vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” Ê-bô-la, bất chấp những nguy cơ có thể xảy ra. Mĩ đã quyết định gửi 4.000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở châu Âu, châu Á và Mĩ La-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây. Trong bối cảnh chưa có vắc-xin điều trị căn bệnh Ê-bô-la, việc cồng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hy vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này. (Dẫn theo nhân dân.com.vn) 1.Văn bản trên đề cập đến vấn đề gì? (0,5 điểm) 2.Dịch bệnh Ê-bô-la bùng phát ở đâu? (0,5 điểm) 3.Theo văn bản, dịch bệnh Ê-bô-la đã tác động đến các quốc gia Tây Phi như thế nào? (0,5 điểm) 4.Vì sao tác giả văn bản trên nhắc đến các nước Mĩ và Cu-ba? (0,5 điểm) 5.Tác giả đánh giá như thế nào về hành động của cộng đồng quốc tế với dịch Ê- bô-la? (0,5 điểm) 6. Suy nghĩ của em về nhan đề “Ứng phó và sẻ chia”, (viết một đoạn văn khoảng 5 đến 6 dòng). (0,5 điểm) PHẦN II. LÀM VĂN( 7 điểm) Câu 1. (3 điểm) Anh ( chị ) hiểu thế nào về truyền thống: Tiên học lễ, hậu học văn ? Trình bày suy nghĩ của anh chị về truyền thống văn hóa này đặt trong tình trạng văn hóa học đường hiện nay đang có nhiều xuống cấp và rạn nứt. Câu 2. ( 4 điểm) Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình (bài số II) ----------- Hết -------------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên thí sinh ..Số báo danh
  2. SỞ GD&ĐT TẠO BẮC GIANG HƯỚNG DẪN CHẤM TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN 1 NĂM HỌC 2015- 2016 (Đáp án gồm có 0 trang Môn: VĂN 11 CÂU YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐIỂM 1.Văn bản trên đề cập đến vấn đề gì? Câu 1 -Văn bản trên đề cập đến vấn đề thế giới ứng phó và sẻ chia những khó 0,5 (3.0đ) khăn mà các quốc gia ở Tây Phi đang phải trải qua do dịch bệnh Ê-bô- la gây ra. -Nếu học sinh trả lời: Dịch bệnh Ê-bô-la ở Tây Phi thì được 0,25đ 2.Dịch bệnh Ê-bô-la bùng phát ở đâu? 0,5 Dịch bệnh Ê-bô-la bùng phát ở một số quốc gia ở châu Phi. 3.Theo văn bản, dịch bệnh Ê-bô-la đã tác động đến các quốc gia 0,5 Tây Phi như thế nào? Trả lời đủ 3 ý được 0,5đ, thiếu một ý được 0,25đ -Hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi-rút Ê-bô- la ở năm quốc gia Tây Phi. -Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì Ê-bô-la. -Tại Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử Thượng viện phải hủy bỏ do Ê-bô-la “tác quái”. 4.Vì sao tác giả văn bản trên nhắc đến các nước Mĩ và Cu-ba? 0,5 Vì đó là hai quốc gia trong số những quốc gia đã chia sẻ và giúp đỡ các nước có dịch bệnh Ê-bô-la. (Hoặc vì Mĩ đã quyết định gửi 4.000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở châu Âu, châu Á và Mĩ La-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.) 5.Tác giả đánh giá như thế nào về hành động của cộng đồng quốc 0,5 tế với dịch Ê-bô-la. Đó không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hy vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này. 6. Suy nghĩ của em về nhan đề “Ứng phó và sẻ chia”? (viết một 0,5 đoạn văn khoảng 5 đến 6 dòng) -HS biết cách trình bày một đoạn văn và bày tỏ được quan điểm của mình theo hướng sau Thế giới hiện đại phải đối mặt với các dịch bệnh mới phát sinh. Nó không chỉ ảnh hưởng đên mỗi quốc gia mà còn ảnh hưởng tới toàn cầu. Vì thế các quốc gia cần phải chung tay ứng phó và sẻ chia với các dịch bệnh đó. -Nếu hình thức không đúng yêu cầu thì không được điểm - Nếu hình thức đúng, nội dung chưa đủ thì được 0,25đ Câu 2 1 - Nêu vấn đề cần nghị luận: 0,25
  3. ( 3,0đ) + Tiên học lễ, hậu học văn là một truyền thống tốt đẹp cảu văn hóa Việt Nam. + Tuy nhiên, trong tình trạng văn hóa học đường hiện nay có nhiều xuống cấp và rạn nứt, truyền thống này phần nào bị mai một. + Thế hệ trẻ ngày nay suy nghĩ như thế nào về hiện tượng này. 2 – Triển khai bài viêt * Giải thích ý nghĩa câu danh ngôn: 1,25 - Đây là phương châm giáo dục bắt nguồn từ quan niệm của Nho gia. Lễ là cách cư xử, giao tiếp có văn hóa giữa người với người theo chuẩn mực đạo đức xã hội qui định, hiểu rộng ra là phải biết kính trên nhường dưới. Văn là chữ, hiểu rộng ra là kiến thức của con người được tích lũy qua bao thế hệ. Tiên và hậu là trước và sau. Không phải chú trọng lễ mà quên văn. Cả hai đều có vai trò quan trọng ngang nhau. - Tiên học lễ: trước tiên phải học lễ nghĩa, học đạo đức bởi có biết kính trọng người thầy của mình, quý mến bạn bè của mình thì mới có thể học hành một cách nghiêm túc và đầy đủ. - Hậu học văn: Người có đạo đức cần phải có kiến thức. Đạo đức làm cho kiến thức được sử dụng đúng hướng. Còn kiến tức làm cho đạo đức trở nên hữu dụng, tỏa sáng. => Người truyền đạt kiến thức phải chú ý dạy học trò cả lễ nghĩa, đạo đức lẫn kiến thức thì mới đào tạo được những con người toàn diện về cả tài và đức. Dẫn chứng: Cha ông ta từ xa xưa đã quán triệt tinh thần giáo dục Tiên học lễ, hậu học văn. Nhiều thày giỏi như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm học trò của họ dù thành đạt bao nhiêu cũng không bỏ rơi lễ nghĩa với với thầy, với nhân dân, đất nước. => Quan hệ giữa lễ và văn suy rộng ra trong xã hội hiện đại ngày nay chính là quan hệ giữa tài và đức. * Suy nghĩ của bản thân về câu nói trong tình trạng văn hóa học đường 1,25 ngày nay đang rạn nứt, xuống cấp. - Ngày nay truyền thống này dần dần bị mai một: + Nhiều học sinh đã có hành động vô lễ với thầy. + Nhiều phụ huynh không lo rèn con học chỉ chăm chăm xin điểm, chạy điểm cho con. Từ đó học sinh thụ động không chịu cố gắng học tập. + Văn hóa học đường cũng đang báo động. Hiện tượng nói tục, chửi bậy ngày càng nhiều. + Về phía người thầy, một số người cũng bị quan hệ thị trường tác động. Họ đồng thuận với việc mua điểm của phụ huynh. - Nguyên nhân dẫn đến sự mai một truyền thống này: + Xã hội thay đổi, những giá trị truyền thống dần dần bị mất đi, không được coi trọng. + Nền kinh tế thị trường tác động và chi phối mọi mối quan hệ. + Giáo dục nhà trường và xã hội chưa có sự phối hợp đồng thuận. 0,25 3- Khái quát lại vấn đề, liên hệ rút ra bài học cho bản thân: - Hiểu rõ truyền thống tốt đẹpcủa cha ông ta.
  4. - Bản thân em chú ý rèn luyện cả lễ và văn. - Rút ra nhận xét khái quát và bài học cho bản thân Câu 3 1. Yêu cầu chung: Biết cách làm bài nghị luận văn học dạng bài cảm (4 nhận về tâm trạng nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ Trung đại . Bố điểm) cục bài chặt chẽ, hợp lí; diễn đạt chính xác, lưu loát, có cảm xúc; lập luận thuyết phục. 2. Yêu cầu cụ thể: Bài có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần thể hiện được một số ý chính như sau: a. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm từ đó giới thiệu nội dung 0,25 bài viết: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình b. Triển khai bài viết qua các ý cơ bản: * Có thể giới thuyết về cuộc đời hồ Xuân Hương và chùm thơ Tự tình, 0,5 tập trung làm nổi bật ý: Hồ Xuân Hương là con người yêu đời, yêu sống, khát khao mãnh liệt tình yêu, hạnh phúc nhưng hạnh phúc hình như chưa bao giờ đến với bà. Hai lần lấy chồng, hai lần phải làm lẽ, mỗi bước đi kiếm tìm hạnh phúc chỉ để lại những dư vị chua chát đắng cay. Chùm thơ Tự tình ba bài thể hiện tiễng nói oán hờn duyên phận của nữ sĩ. * Tâm trạng Hồ Xuân Hương giãi bày trong bài thơ: + Tâm trạng cô đơn, buồn tủi, bẽ bàng trong hai câu thơ mở đầu: 0,75 Bám vào văn bản làm rõ hoàn cảnh tự tình và sự xuất hiện của nhân vật trữ tình: - Phân tích thời điểm: đêm khuya; âm thanh của tiếng trống cầm canh văng vẳng, dồn dập vừa gợi không gian rộng lớn vắng vẻ, yên tĩnh ( nghệ thuật lấy động tả tĩnh) vừa gợi bước đi gấp gáp, sự hối thúc của thời gian - Phân tích cách diễn tả: trơ, cái hồng nhan , biện pháp đảo ngữ để thấy nỗi buồn tủi, bẽ bàng về thân phận, về giá trị của người đàn bà trong tâm sự của nhà thơ. - Phân tích cụm từ với nước non để làm bật bản lĩnh, sự cứng cỏi của chủ thể trữ tình ngay trong hoàn cảnh trơ trọi, đơn độc, buồn chán + Niềm khát khao hạnh phúc trọn vẹn và nỗi bế tắc không như ý ở 0,5 cặp câu thơ tiếp theo: - Phân tích hành động giải thoát mà càng bế tắc: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Liên hệ với cuộc đời tác giả để hiểu hình ảnh , vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn có thể là một ẩn dụ diễn tả tình cảnh trớ trêu của nữ sĩ: đã luống tuổi, tuổi xuân đã đi qua mà vẫn chưa có được hạnh phúc và tình yêu đích thực. + Tâm trạng phẫn uất, phản kháng, muốn thay đổi, muốn nổi loạn 0,5 chống lại số phận thể hiện trong hai câu luận: - Phân tích bức tranh cảnh khác thường, bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện độc đáo, cách đảo ngữ cùng với những động từ mạnh để làm nổi bật tâm sự và bản lĩnh khác thường của xuân Hương. + Nỗi chán chường, thất vọng , ngậm ngùi trong cặp câu thơ kết lại 0,75
  5. bài thơ: Phân tích các từ xuân, lại, mảnh tình san sẻ , cách nói đa nghĩa tài tình, kết hợp với sự hiểu biết về cuộc đời xuân Hương để làm rõ nét tâm trạng này. * Khái quát đôi nét về nghệ thuật 0,5 Ngôn từ độc đáo, sắc nhọn,ngôn ngữ đời thường đưa vào thơ một cách tự nhiên, sinh động, cách tả cảnh, tả tình điêu luyện, c.Đánh giá khái quát lại vấn đề, nêu ý nghĩa và rút ra bài học tư 0,25 tưởng: Bản lĩnh, cá tính của Xuân Hương bộc lộ ngay trong tâm sự đầy bi kịch ở bài thơ: Buồn tủi cay đắng xót xa mà phẫn uất, không cam chịu. Đằng sau đó là niềm khát khao cháy bỏng về hạnh phúc đời thường. Học sinh tự rút ra bài học. .................... Hết ........................
  6. SỞ GD&ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THỬ KỲ THI THPT QUỐC GIA LẦN 1 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Năm học 2015 - 2016 Môn: NGỮ VĂN 10 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) Phần I. Đọc hiểu ( 3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi : “ Thế là Đăm Săn lại múa. Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lóc. Cây cối chết rụi. Khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Khi chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung. Cây giáo thần, cây giáo dính đầy những oan hồn của chàng nhằm đùi Mtao Mxây phóng tới, trúng nhưng không thủng. Chàng đâm vào người Mtao Mxây cũng không thủng ” ( Trích Sử thi Đăm Săn ) Câu 1. Xác định nội dung của đoạn trích ? ( 0.5 điểm) Câu 2. Chỉ ra các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên ? (0.5 điểm). Câu 3. Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật của đoạn trích và nêu tác dụng ? ( 2 điểm). Phần II. Làm văn (7.0 điểm ) Câu 1( 3.0 điểm) Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ tha thiết căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em ”. Em suy nghĩ gì về lời căn dặn của Bác ? Câu 2 : (4 điểm) Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy có đoạn kết như sau: “ Mị Châu đã chết, Trọng Thủy tiếc thương khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng thêm, nhân kiêng tên Mị Châu nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu” ( SGK Ngữ văn 10- Trang 42) (1) Câu chuyện còn có một cách kết khác: “ Oan hồn Mị Châu dìm chết Trọng Thủy ở giếng Loa Thành” (2) Em hãy so sánh hai cách kết này và nêu lên suy nghĩ của mình. ----------- Hết ---------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên thí sinh:................................................. Số báo danh: ..............................