Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn Lớp 11
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn Lớp 11", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_i_ngu_van_lop_11.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn Lớp 11
- MỘT SỐ GỢI Ý HƯỚNG DẪN ÔN TẬP HỌC KÌ I- MÔN NGỮ VĂN 11 (PHẦN VĂN XUÔI TỰ SỰ HIỆN ĐẠI 1930-1945) Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo trong đoạn trích sau: Khi Chí Phèo mở mắt thì trời đã sáng lâu. Mặt trời chắc đã cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết. Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn chỉ hơi tờ mờ. Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài trời vẫn sáng. Chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hết say. Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn! - Vải hôm nay bán mấy? - Kém ba xu dì ạ. - Thế thì còn ăn thua gì! - Thật thế đấy. Nhưng chẳng lẽ rằng lại chơi. Chí Phèo đoán một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ở Nam Ðịnh về. Hắn nôn nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Tỉnh dậy hắn thấy già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu... Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời. Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy đọa cực nhọc mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. (Trích Chí Phèo–Nam Cao, SGK ngữ văn 11, tập 1, Trang 149) Gợi ý phân tích: A. Mở bài Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ông sáng tác thành công 2 mảng đề tài: người trí thức và người nông dân. Trong đó, “Chí Phèo” là kiệt tác viết về người nông dân với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Những trang văn cảm động nhất của Nam Cao dành cho Chí Phèo nằm ở quá trình Chí hồi sinh sau khi gặp Thị Nở. Đoạn Chí Phèo tỉnh rượu và tỉnh ngộ được tác giả kể bằng ngôn ngữ nửa trực tiếp đã cho thấy từng bước tâm trạng hồi hộp trên con đường trở về làm người lương thiện của Chí. “Khi Chí Phèo mở mắt và ốm đau” B. Thân Bài I. Dẫn dắt 1. Hoàn cảnh ra đời Truyện ngắn “Chí Phèo” được Nam Cao sáng tác năm 1941, ban đầu có tên là Cái lò gạch cũ, sau đó nhà xuất bản tự đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi, cuối cùng khi in lại, Nam Cao đã đặt lại là Chí Phèo. Câu chuyện kể về nhân vật Chí Phèo, người nông dân trong xã hội nửa thực dân phong kiến bị lưu manh hóa, đã làm nên tên tuổi của Nam Cao. 2. Giới thiệu lai lịch nhân vật, tình huống dẫn đến đoạn cần phân tích Chí Phèo- nhân vật trung tâm trong truyện, có cuộc đời bi kịch. Sinh ra đã là đứa con hoang bị bỏ rơi ở lò gạch cũ, được người dân làng Vũ Đại nhặt về, cưu mang, chuyền tay nhau nuôi lớn thành người lương thiện. Nhưng Chí không được sống lương thiện, bình ổn. Cuộc đời nhân vật Chí Phèo có thể chia thành 2 giai đoạn tương ứng với 2 quá trình: trước khi gặp Thị Nở- quá trình lưu manh hóa: từ người nông dân lương thiện bị biến thành lưu manh, rồi con quỹ dữ của làng Vũ Đại ; sau khi gặp Thị Nở- quá trình hồi sinh: Từ kiếp quỷ, Chí thức tỉnh, khao khát trở lại làm người lương thiện, nhưng bị cự tuyệt, rồi đi đến tự sát.
- Đoạn Chí Phèo tỉnh dậy vào buổi sáng là phần tiếp ngay sau tình tiết gặp gỡ Thị Nở, sau cái đêm ăn nằm với Thị Nở ở vườn chuối, Chí Phèo bị cảm, thổ hết rượu, được Thị Nở dìu vào trong lều. Nhờ đó mà lần đầu tiên sau bao nhiêu năm trượt dài trong những cơn say triền miên, Chí tỉnh rượu, để rồi tỉnh ngộ. II. Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo khi tỉnh rượu, tỉnh ngộ 1. Tỉnh rượu -Phỏng đoán thời gian: Khi Chí Phèo mở mắt thì trời sáng đã lâu, Mặt trời chắc đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cứ nghe tiếng chim ríu rít bên ngoài là đủ biết. Đây là cảm nhận thời gian rất tinh tế của Chí: đoán biết thời gian qua âm thanh. Với cấu trúc: chắc là (phỏng đoán) điệp lại 2 lần, cùng hình ảnh miêu tả nắng rực rỡ- Chí đang tưởng tượng, tiếng chim ríu rít- Chí đang lắng nghe; vừa cho thấy những giác quan đang hoạt động trở lại- trạng thái người tỉnh táo ở Chí, vừa mở ra một khung cảnh buổi sáng bình yên đến lạ lùng nơi lúp lều của Chí Phèo. - Nhận thức trạng thái cơ thể: Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm. Một loạt những trạng thái vừa là sinh lí, vừa là tâm lí của người tỉnh rượu đã được miêu tả chính xác: miệng đắng, bủn rủn chân tay không buồn nhấc, rùng mình, nôn nao; lòng thì bâng khuâng, mơ hồ buồn hoang hoác, trống trải, mệt mỏi. Những cấu trúc ngữ pháp: Hắn bâng khuâng, hắn thấy, hắn sợ nhằm trạng thái những nét tâm lí đang diễn ra bên trong con người Chí bằng lời kể chuyện nửa trực tiếp. -Lắng nghe âm thanh: Tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá quen thuộc và vui vẻ quá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy... Chao ôi là buồn! Những âm thanh bình dị ấy như tiếng đời gọi Chí, gọi cả phần cảm xúc buồn- rất con người trong Chí. Dấu sau câu Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy diễn tả cả một khoảng trống vắng chông chênh trong lòng Chí: nuối tiếc? hay hụt hẫng? hay bần thần nhận ra mình đã say quá lâu để cuộc đời lương thiện bằng phẳng bình yên này trôi qua túp lều bao năm? Chao ôi là buồn! Biết buồn là cảm xúc hoàn chỉnh của trạng thái tỉnh rượu, tỉnh táo như 1 con người. Nhận xét: Trạng thái tỉnh rượu của Chí Phèo được miêu tả hết sức tinh tế: đó là sự hoạt động trở lại của các giác quan mà trong suốt bao nhiêu năm đã bị tê liệt bởi rượu: thính giác, tri giác, tưởng tượng, xúc cảm. 2. Tỉnh ngộ - Nhớ lại quá khứ: - Vải hôm nay bán mấy? - Kém ba xu dì ạ. - Thế thì còn ăn thua gì! - Thật thế đấy. Nhưng chẳng lẽ rằng lại chơi. Chí Phèo đoán một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ở Nam Ðịnh về. Hắn nao nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Mẩu chuyện vu vơ mà Chí đã nghe trọn đã nhắc Chí về 1 cái gì rất xa xôi, khiến lòng hắn nao nao buồn. Từ Hình như- phỏng đoán mơ hồ, không chắc chắn đã diễn tả rất chính xác hình ảnh quá khứ bị phủ mờ bởi màn sương của một bộ óc chìm trong men rượu quá dài, nay chợp chờn sống lại. Một thời- hắn đã ao ước về một gia đình nho nhỏ- xa xôi, buồn thay, vẫn chỉ là ao ước xa xôi. Người chồng chăm chỉ cày cuốc và người vợ đảm đang dệt vải ấy đâu phải là hắn, hắn đâu có? -Nhận thức thực tại: Tỉnh dậy hắn thấy già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu... Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời. Khoảnh khắc Chí tỉnh dậy, cũng là khoảnh khắc Chí đối diện với tình cảnh bi thảm của chính mình: già mà vẫn còn cô độc! Vậy là cái ước ao ở tuổi 20 vẫn nằm vĩnh viễn ở tuổi 20! cái ao ước nhỏ nhoi vẫn mãi là dang dở! hắn đã trượt quá dài, quá xa. Buồn thay cho đời! Câu văn là tiếng than chua chát của Chí khi nhìn vào thực tại trắng tay của mình. Buồn thay cho cuộc đời này- cái cuộc đời phi nhân tính đã cướp trắng trợn, bóp vụn ước ao hạnh phúc của con người; và buồn thay cho cuộc đời của hắn- sinh ra đã cô độc, đến già vẫn cô độc! Dường như chưa thể tin vào sự thật cay đắng đó, Chí còn tự hoài nghi, tự chất vấn: Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Không muốn tin, nhưng rồi chính hắn phải tự xác nhận: Ngoài bốn mươi tuổi đầu...Hơn nửa đời đã trượt qua. Dấu “ ” im lặng, trĩu nặng đến ngẩn người. Hắn tỉnh táo mà phân tích thực tế: đó không phải là tuổi mà người ta bắt đầu sửa
- soạn- ai người ta bắt đầu sửa soạn ở cái tuổi ngoài 40? Hắn hiểu mình đã hết cơ hội bắt đầu, hắn xác định rõ hắn đang ở vị trí nào trong cuộc đời của mình: cái dốc bên kia của đời: một người bình thường ở thôn quê đã phải làm xong những việc lớn nhất của một kiếp người: có nghề nghiệp, có nhà cửa, có gia thất, nếu mau mắn thậm chí đã có cháu rồi, còn hắn có gì? Chỉ có già và cô độc! hết hi vọng, hết cơ hội để thực hiện ước mơ xây dựng 1 gia đình nho nhỏ. Hắn đã tỉnh dậy quá muộn màng! -Hình dung tương lai: Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau. Tương lai mà Chí trông thấy trước thật là bi đát: đói rét- nghèo khổ, ốm đau- bệnh tật, cô độc- không gia đình. Trong ba điều Chí tự liệt kê đáng sợ đó, cô độc là thứ đáng sợ nhất, nó được nhấn mạnh, tăng tiến sau cùng. Tâm lí con người ta khi sang cái dốc bên kia cuộc đời có lẽ ai cũng vậy: khi về già: đói rét, ốm đau đã rất đáng sợ rồi, nhưng là nỗi khổ về vật chất, sẽ vượt qua được nếu như có người thân bầu bạn, sẻ chia, an ủi; đằng này lại còn cô độc lủi thủi một mình thì đúng là bi đát tận cùng. Chí như run rẩy, và hoàn toàn yếu đuối khi hình dung tương lai tất yếu đó của mình. Nếu cái hình như về một thời quá khứ rất xa xôi, rất mờ thì hình như đến tuổi già cô độc lại rất gần, rất rõ. Những ý nghĩ bên trong của Chí được kể bằng một ngôn ngữ tự sự phân tích tâm lí vừa sắc sảo lại vừa đẫm chất trữ tình: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy đọa cực nhọc mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã đến. Ở câu văn này, tác giả đã dùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ: trận ốm- cơn mưa gió cuối thu, gió rét- mùa đông: cái lạnh lẽo, tàn lụi cuối đời. Câu văn vừa là lời phân tích của tác giả, vừa là sự suy ngẫm của chính nhân vật. Suy ngẫm được như thế phải là người trải đời sâu sắc lắm, và cũng đang hoang mang, sợ hãi lắm trước cái mùa đông cô độc của đời mình! Nhận xét: Trạng thái Chí Phèo tỉnh ngộ đã được kể, phân tích cảm động: Chí biết buồn, biết sợ hãi, biết lo âu..là biết sống như 1 con người bình thường. III. Đánh giá 1. Diễn biến tâm trạng nhân vật đã diễn ra như thế nào? Ở đoạn truyện trên, tâm trạng của Chí Phèo đã diễn ra theo lô gic: từ tỉnh rượu đến tỉnh ngộ, từ những cảm nhận về không gian, thời gian cuộc sống khách quan đến những suy ngẫm, phân tích về cuộc sống chính mình, từ hồi hộp ngạc nhiên ngỡ ngàng khi tỉnh dậy cảm nhận được cái thanh bình lương thiện của cuộc đời đến bâng khuâng, nao nao, chao ôi buồn, buồn thay, rồi sợ sệt, hoang mang thay cho cuộc đời của chính mình. Với diễn biến tâm trang đó, người đọc nhận ra Con người bình thường của Chí đang hồi sinh. Chí đang lần lần những bước chân đầu tiên trên con đường trở về làm người lương thiện 2. Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc? -Lời kể chuyện nửa trực tiếp, vừa kể, vừa tả, vừa phân tích, vừa triết lí, tạo thành một đoạn độc thoại nội tâm nhân vật cảm động, hấp dẫn. Đây cũng là thế mạnh của Nam Cao, phân tích và diễn tả sắc sảo những trạng thái tâm lí phức tạp. -Giọng kể: không còn cái giọng lạnh lùng dửng dưng giễu nhại khi kể về Chí chửi, hay ăn vạ, đoạn truyện có giọng đằm thắm, thương cảm: qua kiểu cấu trúc câu: Hắn (chủ ngữ) với những động từ, tính từ chỉ tâm trạng: bâng khuâng, nao nao,; những hình ảnh: chím ríu rít, nắng rực rỡ, cơn mưa gió cuối thu; những câu văn cảm thán: chao ôi là buồn! Buồn thay cho đời!; những câu hỏi tu từ: có lí nào như thế được?..., những dấu chấm lửng” ” góp phần diễn tả tâm trạng yếu đuối, sợ sệt, hiền lành cũng vốn là bản chất lương thiện của Chí đồng thời thể hiện sự chia sẻ của tác giả dành cho nhân vật của mình. 3. Thái độ của tác giả? - Đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu với từng nét tâm lí, ý nghĩ của nhân vật. Nhà văn như cũng hồi hộp dõi theo từng bước hồi sinh của Chí. -Trân trọng sự hồi sinh ý nghĩa của Chí Phèo. Thể hiện cái nhìn nhân đạo sâu sắc về con người: đến một con quỷ như Chí Phèo cũng biết tỉnh ngộ. 4. Giá trị của đoạn truyện? Đoạn truyện, là khởi đầu quá trình hồi sinh của Chí, một trong những trang văn xuôi đằm thắm, cảm động nhất làm tăng sự hấp dẫn cho cả câu chuyện, cho thấy tài năng văn xuôi hiện thực tâm lí xuất sắc và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. C. Kết bài Đoạn truyện kể về Chí Phèo ở buổi sáng tỉnh rượu và tỉnh ngộ thật cảm động, với chuỗi diễn biến tâm trạng nhân vật lô gic, hấp dẫn. Qua đây, bạn đọc chúng ta phần nào lí giải được vì sao “Chí Phèo” lại trở thành một kiệt tác. Bởi ở đó, Nam Cao đã khơi sâu vào nguồn chưa ai khơi: hiện thực tâm lí bên trong con người, tìm thấy bản chất lương thiện ở con quỹ dữ Chí Phèo.
- ĐỀ BÀI 2: nghệ thuật trào phúng trong trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng) Hướng dẫn trả lời Nội dung 1: Giới thiệu chung -Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực trào phúng xuất sắc. Cảm hứng sáng tác của Vũ Trọng Phụng là niềm căm thù mãnh liệt đối với xã hội thực dân phong kiến tàn ác lố bịch, đểu giả thối nát. Tiểu thuyết Số đỏ là “cuốn sách có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học” (Nguyễn Khải) - Vị trí của trích đoạn, cuối chương XIV, thể hiện tập trung nổi bật nhất chủ đề của Số đỏ: lên án gay gắt xã hội tư sản thành thị đua đòi lối sống văn minh rởm hết sức lố lăng đồi bại đương thời. - Trào phúng: dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để mỉa mai, cười nhạo kẻ khác. Tiếng cười tạo ra khi phát hiện mâu thuẫn trào phúng. Mâu thuẫn trào phúng là những điều trái với lẽ tự nhiên. Có ba yếu tố gây cười: Đối tượng có tính hài, sự cường điệu, sự sắc bén ý nhị hóm hỉnh của người kể chuyện. Trong nền văn học của chúng ta, sáng tác trào phúng khá phong phú. Văn học dân gian có ca dao hài hước, châm biếm; có truyện cười, truyện tiếu lâm- rừng cười thể hiện trí tuệ sắc bén của nhân dân. Đến văn học trung đại, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương là những nhà thơ có mảng thơ trào phúng đặc sắc, mỗi người một cách cười riêng: đanh đá như Hồ Xuân Hương, thâm thúy như Nguyễn Khuyến, vỗ mặt như Tú Xương Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện đại đã nối tiếp nguồn mạch đó, dùng tiếng cười để phản ánh hiện thực trong thể loại văn xuôi tự tự hiện đại quy mô chưa có trong văn học dân tộc: tiểu thuyết. Đây chính là sự đóng góp lớn của nhà văn. Nội dung 2: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Ý 1: Sáng tạo mâu thuẫn trào phúng, tình huống trào phúng . - Mâu thuẫn trào phúng cô đặc ở ngay nhan đề trích đoạn: Hạnh phúc của một tang gia. Điều trái lẽ tự nhiên để gây cười cũng là ở đó. Bởi theo lẽ tự nhiên, tang gia- nhà có người chết, thì phải đau buồn. Còn hạnh phúc là trạng thái tinh thần tích cực, khi được thỏa mãn, sung sướng. Đặt hai phạm trù đối nghịch trong mối quan hệ đồng nhất, là tạo lẽ trái tự nhiên, mâu thuẫn, để bật ra tiếng cười, phản ánh sự thật hài hước, tàn nhẫn: Tang gia đó hạnh phúc thật- Cái chết của ông già đáng tuổi chết là niềm ao ước chờ mong của cả đám con cháu trong gia đình đó. - Từ mâu thuẫn cơ bản đó, mở ra những tình huống khác trong trích đoạn, làm rõ niềm hạnh phúc riêng của từng đối tượng có liên quan đến tang gia trong một bộ mặt chung: bộ mặt buồn rầu, tinh thần chung: ai ai cũng vui vẻ cả. Ý 2: Xây dựng chân dung biếm họa bằng thủ pháp cường điệu, phóng đại - Những chân dung cá nhân được miêu tả sắc sảo, chỉ cần một từ ngữ, một chi tiết nói trúng nét riêng của từng nhân vật: Cụ cố Hồng thì biết rồi khổ lắm nói mãi, mơ màng đến cái lúc được thiên hạ khen già, Văn Minh phân vân đăm đăm chiêu chiêu, Tú Tân điên người lên, bà Văn Minh sốt cả ruột, Tuyết vẻ buồn lãng mạn, Min đơ Min toa sung sướng cực điểm, Sư cụ Tăng Phú vênh váo, cụ bà sung sướng vì ông Xuân đã không giận mà lại giúp đáp, phúng viếng đến thế
- - Những chân dung tập thể: Những ông bạn cụ cố Hồng tai to mặt lớn ngực đầy huân chương, khoe râu ria: hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn quăn, cảm động trước làn da trắng thập thò của Tuyết, thật là bậc dê cụ; đám giai thanh gái lịch chim nhau, cười tình nhau..thật là vô văn hóa. - Những màn, pha trào phúng: màn đưa đám ma- đám rước hổ lốn vô văn hóa: theo cả lối Ta, Tàu,Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng cho đến lốc bốc xoảng, kèn bú dích có cậu Tú Tân chỉ huy những nhà tài tử chụp ảnh thi nhau như ở hội chợ, màn hạ huyệt- màn kịch siêu hạng: ông Phán mọc sừng khóc hứt hứt hứt oặt người đi để dúi vào tay Xuân giấy bạc năm đồng gấp tư. Ý 3: Giọng điệu trào phúng - Cách dùng từ, đặt câu theo lối nói ngược, giàu ẩn ý: hạnh phúc của một tang gia, ba hôm sau ông cụ già chết thật; công hiệu đến nỗi mất mạng; cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm, - Dựng đoạn linh hoạt tả cận cảnh (đoạn tả râu các bạn cụ cố Hồng), tả viễn cảnh (đám cứ đi) vừa bao quát chung, vừa lật tẩy cái giả (màn hạ huyệt). - Những lời bình luận mỉa mai: những việc trắc trở như thế đã làm ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh; thật là một đám ma to tát làm cho người chết cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu, thành thử tang gia ai cũng vui vẻ cả Tất cả tạo nên giọng giễu nhại, đả kích sâu cay Nội dung 3: Đánh giá - Dùng nghệ thuật trào phúng để phản ánh hiện thực, Vũ Trọng Phụng đã đạt được hiệu quả xuất sắc trong việc phê phán xã hội, vạch trần bộ mặt thật chó đểu của xã hội tư sản thành thị đó. Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh, vũ khí trong tay nhà tiểu thuyết hiện thực trào phúng này thật sắc nhọn. Quả là Vũ Trọng Phụng đã “bịa như thật về một sự thật như bịa”. - Tiếng cười trong trích đoạn còn có giá trị giáo dục, cảnh tỉnh, thể hiện khát vọng thay đổi mãnh liệt của nhà văn. Cái gốc của trào phúng vẫn là trữ tình: đó là nỗi đau xót trước giá trị đạo đức bị băng hoại bởi đồng tiền của một người phải uốn còng lưng lao lực kiếm tiền nuôi cả gánh nặng gia đình, là nỗi căm phẫn trước thói đạo đức giả của một người trí thức rất trung thực, tôn trọng sự thực muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở đời, là niềm mơ ước về một xã hội tốt đẹp, trong sạch của một người dũng cảm có dũng khí đấu tranh và luôn muốn tiêu diệt tận gốc cái xấu xa đểu giả. -Nếu nhà văn hiện thực vĩ đại của nước Pháp, Ban –dắc trong đám tang lão Gô ri ô dùng cái bi để phê phán xã hội tư sản Pháp cạn kiệt tình người thì nhà văn Vũ Trọng Phụng của chúng ta trong đám tang cụ cố tổ đã dùng cái hài để đả kích sâu cay xã hội tư sản thành thị Việt Nam sa mạc nhân tâm. ĐỀ BÀI 3: Sự tương phản ánh sáng và bóng tối nơi phố huyện lúc về đêm trong truyện Hai đứa trẻ- Thạch Lam. - Thống kê, phân loại những chi tiết bóng tối ánh sáng trong cảnh phố huyện lúc về đêm Bóng tối Ánh sáng -Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng - một khe ánh sáng tối - hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh - Đêm nào Liên và em cũng phải ngồi..với cái tối của - vệt sáng đom đóm quang cảnh phố chung quanh - quầng sáng chung quanh ngọn đèn trên chõng
- -Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con hàng của chị Tí đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng - chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối sẫm đen hơn nữa. - vùng sáng rực lấp lánh (Hà Nội trong kí ức) - Chừng ấy con người trong bóng tối - thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa - Nhận xét về sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng: bóng tối từng bước đậm dần, ngập dần, lan tràn và ngự trị cả phố huyện: màn đen mênh mông dày đặc. Ánh sáng với những dạng tồn tại: khe, vệt, quầng, chấm, hột le lói yếu ớt, không xua đi được bóng tối, trái lại càng làm cho bóng tối hiện hình đậm nét hơn. Đó là thủ pháp lấy sáng tả tối. Ngay trong ánh sáng cũng có sự tương phản: mặt đất và bầu trời, hiện tại và quá khứ. Ánh sáng lấp lánh của sao trên bầu trời xa xôi yếu ớt chẳng đủ soi sáng đêm tối nơi mặt đất, vùng sáng lấp lánh quá khứ càng khiến bóng tối hiện tại khắc khoải hơn. Ánh sáng hiện tại đầy ám ảnh là quầng sáng chỉ chiếu một vùng đất cát nơi chiếc đèn dầu chị Tí, cả phố xá thu nhỏ lại nơi đó, tù mù, tù túng. - Ý nghĩa của sự tương phản: + Phản ánh không gian đời sống tối tăm của phố huyện những năm 30, ở đó, những kiếp người như ánh sáng của ngọn đèn, leo lét, quẩn quanh, sự sống yếu ớt, tàn lụi, mỏi mòn, vô nghĩa. + Cho thấy nỗ lực hướng sáng, kiếm tìm ánh sáng của hai đứa trẻ. Trong bóng tối, 2 đứa trẻ ấy vẫn chắt chiu từng hột sáng, khao khát ánh sáng. Chúng thèm ánh sáng tức là thèm sống, còn hi vọng, chờ đợi mãnh liệt biết bao nhiêu vào một sự sống tươi sáng hơn. Đó cũng là sự chối bỏ thực tại, phủ nhận thực tại. Và nếu không phải vì niềm khao khát ấy thì chúng đã chẳng có lí do gì để ngồi suốt như thế dưới gốc bàng, với cái tối để đợi tàu- đợi ánh sáng + Cho thấy sự hài hòa giữa yếu tố lãng mạn và hiện thực của truyện ngắn, sử dụng hiệu quả thủ pháp tương phản vừa phản ánh hiện thực, vừa gợi mở tâm trạng nhân vật: nỗi khắc khoải trước kiếp người trong bóng tối phố huyện và nỗi khắc khoải nuôi niềm hi vọng sống của riêng mình. ĐỀ BÀI 4: Tại sao Nguyễn Tuân lại coi viên quản ngục trong truyện Chữ người tử tù là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”? - Giải thích: Bản đàn nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ chỉ hoàn cảnh đề lao, ngục thất nơi giam giữ tội phạm một môi trường sống tăm tối nơi sống bằng lừa lọc, tàn nhẫn; thanh âm trong trẻo: tâm hồn, nhân cách tốt đẹp của quản ngục. Từ cách diễn đạt tương phản đó, Nguyễn Tuân khẳng định, đề cao nhân cách quản ngục đối lập với hoàn cảnh sống, phẩm chất không đồng nhất với thân phận, nghề nghiệp. Vấn đề cần làm sáng tỏ: Viên quản ngục vẫn có tâm hồn phẩm chất tốt đẹp dù sống trong hoàn cảnh xấu xa. - Phân tích chứng minh + Nghề nghiệp và môi trường sống của nhân vật: viên quan coi giữ tù, đại diện cho bộ máy cai trị của triều đình phong kiến. Nghề nghiệp và môi trường đó rất dễ khiến người ta bị tiêm nhiễm những cái xấu cái ác. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống: con người chịu sự tác động của hoàn cảnh sống. + Nhân cách của quản ngục: có sở thích cao quý: thú chơi chữ- thú chơi tao nhã, có sở nguyện lạ lùng: xin được chữ Huấn Cao, vì sở nguyện đó mà dám trái bổn phận ; có tấm lòng biệt nhỡn liên tài: quý trọng người có tài, kính trọng khí phách, bất chấp pháp luật và sự khinh bỉ của Huấn Cao. Cụ thể: Khi nhận tin sắp lĩnh nhận 6 phạm nhân trong đó có Huấn Cao, không quan tâm tội to thế nào, mức độ nguy hiểm ra sao mà chỉ quan tâm tài của Huấn Cao, không coi Huấn Cao là tội phạm mà coi đó là người anh hùng, trong lòng ngưỡng mộ, đã nảy ý muốn biệt đãi.
- Khi nhận tù, thái độ kiêng nể lộ rõ dù cố giấu. Đối đãi với Huấn Cao rất hậu hĩnh như khách quý trong nhà: dâng rượu, thịt chu đáo. Khi bị Huấn Cao khinh bạc, không giận, vẫn một lòng kính nể, xin lĩnh ý, không đến buồng giam nữa. Bởi ý nghĩ khiêm nhường mà thấu tình: những người chọc trời khuấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình, chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Khi được Huấn Cao cho chữ, cho lời khuyên, quản ngục đã khóc: kẻ mê muội này xin bái lĩnh. Dòng nước mắt biểu hiện của thiên lương. Dòng nước mắt khẳng định cái đẹp chân chính có khả năng thanh lọc tâm hồn con người, nâng đỡ nhân cách con người, làm con người sống đẹp hơn. Tất cả những lí lẽ trên đã làm rõ sự trong trẻo ở quản ngục một kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình. Quản ngục dù ở trong môi trường xấu nhưng không bị tha hóa, biến chất, mà vẫn giữ được thiên lương. Chính thiên lương đó đã khiến Huấn Cao cảm động mà chấp thuận cho chữ. - Đánh giá: + Nhân vật viên quản ngục thuộc kiểu nhân vật lãng mạn: con người đối lập với hoàn cảnh, kiểu nhân vật của Nguyễn Tuân: viên quản ngục có tâm hồn nghệ sĩ. + Nhân vật này thể hiện tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân: trong mỗi con người đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài. Cái đẹp chân chính, dù ở hoàn cảnh nào vẫn giữ được phẩm chất và nhân cách.

