Đề cương ôn tập cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2023-2024

pdf 18 trang Gia Hân 26/07/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2023-2024", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_cuoi_hoc_ki_ii_ngu_van_11_nam_hoc_2023_2024.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2023-2024

  1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ II- MÔN NGỮ VĂN 11 NĂM HỌC 2023- 2024 Thời gian làm bài: 90 phút A. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ 2 Mức độ nhận thức T Kĩ Vận Tổng Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ năng Nhận Thôn Vận T năng dụng % biết g hiểu dụng cao điểm 1 Đọc Truyện thơ dân gian, truyện thơ Nôm 1 3 1 0 40 Truyện ngắn/ tiểu thuyết hiện đại Bi kịch Kí, tuỳ bút hoặc tản văn Thơ Văn bản thông tin Văn nghị luận 2 Viết Viết văn bản nghị luận về một vấn đề 1* 1* 1* 1* 60 xã hội Viết văn bản nghị luận về một đoạn trích/tác phẩm văn học hoặc một bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng. Viết bài thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội Tổng 25% 45% 20% 10% 100 Tỉ lệ chung 70% 30% B. TRI THỨC NGỮ VĂN I. ĐỌC BÀI I. CÂU CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN KỂ Thể loại Truyện hiện đại Các văn bản đã học - Vợ nhặt- Kim Lân - Chí Phèo- Nam Cao Đặc điểm 1. Truyện ngắn hiện đại thể loại - Thể loại tự sự cỡ nhỏ, - Thường xoay quanh một, hai tình huống nhưng gây ấn tượng mạnh đối với người đọc, - Đòi hỏi sự chắt lọc, dồn nén của các chi tiết và vận dụng bút pháp chấm phá trong trần thuật. 2. Câu chuyện (còn có thể gọi là truyện gốc) - Khái niệm: là nội dung của tác phẩm tự sự (nhân vật, bối cảnh và sự kiện được sắp xếp theo trật tự thời gian)
  2. - Phân biệt truyện kể và câu chuyện: gắn liền nhưng không đồng nhất (vì truyện kể bao gồm sự kiện theo mạch kể, gắn liền với vai trò của người kể chuyện, hệ thống điểm nhìn và lớp lời văn nghệ thuật). 3. Điểm nhìn trong truyện kể - Điểm nhìn: vị trí để quan sát, trần thuật, đánh giá. - Phân loại điểm nhìn: + Điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật. + Điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong. + Điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian. + Điểm nhìn còn mang tính tâm lý, tư tưởng, gắn liền với vai kể hoặc nhân vật 4. Lời người kể chuyện và lời nhân vật - Vai trò: là những yếu tố cấu thành lớp lời văn nghệ thuật của văn bản tự sự. - Lời người kể chuyện: + gắn với ngôi kể, điểm nhìn, ý thức và giọng điêu của người kể chuyện. + Chức năng: miêu tả, trần thuật, phán đoán, đánh giá đối tượng được miêu tả, trần thuật. - Lời nhân vật: là ngôn ngữ đối thoại hay độc thoại gắn với ý thức, quan điểm, giọng điệu của chính nhân vật. - Mối quan hệ của lời người kể chuyện và lời nhân vật: kết nối, cộng hưởng, giao thoa với nhau tạo lời nửa trực tiếp, lời độc thoại nội tâm, lời nhạị. BÀI 2. CẤU TỨ VÀ HÌNH ẢNH TRONG THƠ TRỮ TÌNH Các văn bản đã học - Nhớ đồng- Tố Hữu - Tràng Giang- Huy Cận - Con đường mùa đông- Puskin Đặc điểm 1. Cấu tứ trong thơ thể loại - Cấu tứ là một khâu then chốt, mang tính chất khởi đầu của hoạt động Thơ trữ sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ nói riêng. Trong lĩnh vực tình hiện thơ, cấu tứ gắn liền với việc xác định, hình dung hướng phát triển của đại hình tượng thơ, cách triển khai bài thơ, sao cho toàn bộ nhận thức, cảm xúc, cảm giác của nhà thơ về một vấn đề, đối tượng, sự việc nào đó có thể được bộc lộ chân thực, tự nhiên, sinh động và trọn vẹn nhất. - Cấu tứ dựa trên mô hình cấu trúc phổ quát của bài thơ: Cấu tứ dựa trên việc xây dựng, tạo lập các hình tượng trong thơ. Cách tổ chức tác
  3. phẩm dựa trên việc xây dựng và tổ chức hình tượng có sức khái quát cao luôn là khao khát và thách thức lớn đối với mỗi nhà thơ - Cấu tứ dựa trên đặc trưng cấu trúc của thể thơ và đặc trưng của một số biện pháp nghệ thuật trong thơ: Cấu tứ dựa trên sự tôn trọng đặc trưng của các thể thơ: Thơ lục bát, thơ Đường luật, 2. Yếu tố tượng trưng trong thơ - Trong lĩnh vực sáng tác văn học – nghệ thuật nói chung, sáng tác thơ ca nói riêng, thuật ngữ tượng trưng trước hết được dùng để chỉ một loại hình ảnh, hình tượng mang tính đặc thù. - Trước một hình ảnh, hình tượng chứa đựng nhiều tầng nghĩa và gợi lên những cảm nhận đa chiều, người ta có căn cứ để nói đến sự hiện diện của yếu tố tượng trưng. Yếu tố tượng trưng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính chất tượng trưng của bài thơ. BÀI 3: CẤU TRÚC CỦA VĂN BẢN NGHỊ LUẬN Thể loại Văn bản nghị luận Các văn bản đã học - Cầu hiền chiếu (Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm) - Tôi có một ước mơ (Trích Bước đến tự do, Câu chuyện Mon-ga-mơ- ri (Montgomery), Mác-tin Lu-thơ Kinh –Martin Luther King) - Một thời đại trong thi ca (Trích Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh) Đặc điểm Cấu trúc - Một văn bản nghị luận bao gồm nhiều thành tố: luận đề, luận thể loại của văn điểm, lí lẽ, bằng chứng được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan bản nghị hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất. luận - Luận đề, luận điểm: luận đề có chức năng định hướng việc triển khai các luận điểm. Các luận điểm trong văn bản nghị luận, với sự thống nhất của lí lẽ và bằng chứng, có nhiệm vụ làm rõ từng khía cạnh và thể hiện tính nhất quán của luận đề. Mối quan hệ có tính bản chất giữa các thành tố như vậy tạo nên cấu trúc đặc thù của văn bản nghị luận. Yếu tố bổ Để tăng sức thuyết phục cho văn bản nghị luận, ngoài lí lẽ và bằng trợ trong chứng, người viết còn có thể sử dụng một số yếu tố bổ trợ như: văn bản thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận - Thuyết minh trong văn bản nghị luận có tác dụng giải thích, cung cấp những thông tin cơ bản xung quanh một vấn đề, khái niệm, đối tượng nào đó, làm cho việc luận bàn trở nên xác thực. - Miêu tả được dùng để tái hiện rõ nét, sinh động hơn những đối tượng có liên quan.
  4. - Tự sự đảm nhiệm việc kể câu chuyện làm bằng chứng cho luận điểm mà người viết nêu lên. - Biểu cảm giúp người viết bộc lộ cảm xúc, tình cảm làm cho văn bản có thêm sức lôi cuốn, thuyết phục. BÀI 4: TỰ SỰ TRONG TRUYỆN THƠ DÂN GIAN VÀ TRONG THƠ TRỮ TÌNH Thể loại Truyện thơ dân gian, thơ trữ tình Các văn bản đã học - Lời tiễn dặn (Trích Tiễn dặn người yêu – truyện thơ dân tộc Thái) - Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây – Cao Bá Quát - Thuyền và biển (Xuân Quỳnh) Đặc điểm Truyện thơ thuộc loại hình tự sự, có cốt truyện, câu chuyện, nhân vật, thể loại lời kể, nhưng lại được thể hiện dưới hình thức thơ. - Dung lượng và đề tài: Truyện thơ dân + Dung lượng tương đối lớn, gian + Bao quát nhiều sự kiện, con người, chi tiết cụ thể, sinh động của đời sống thường nhật. - Điều kiện tồn tại và phát triển: Truyện thơ hiện diện trong nhiều nền văn học, có lịch sử lâu đời, phát triển thành một số dòng riêng theo sự chi phối của các điều kiện văn hóa, xã hội cụ thể. - Đặc điểm: + Kế thừa truyền thống của dân ca với sự kết hợp hài hòa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình + Nội dung: Thể hiện được một cách sinh động đời sống hiện thực và những tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhiều lớp người trong xã hội, nhất là những người lao động nghèo. + Ngôn ngữ: giản dị, chất phác, giàu hình ảnh, gắn liền với cách tư duy hình ảnh rất đặc trưng của những người sống hòa đồng, gắn bó với đất đai, muông thú, cỏ cây, Yếu tố - Đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình: thể hiện cảm xúc, tâm trạng tự sự của nhân vật trữ tình. trong - Yếu tố tự sự trong thơ trữ tình: có bóng dáng của một câu chuyện, thơ trữ tình một sự kiện với những đường nét cốt yếu của nó. BÀI 5: NHÂN VẬT VÀ XUNG ĐỘT TRONG BI KỊCH Thể loại Bi kịch Các văn bản đã học - Sống, hay không sống – đó là vấn đề (Trích Hăm-lét – Hamlet, Uy-li- am Sếch-xpia - William Shakespeare) - Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Trích Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
  5. Đặc điểm Bi kịch - Nhân vật chính trong bi kịch: thể loại + Thường phải trải qua những trạng thái giằng xé, bế tắc, rơi vào những tình huống hết sức nặng nề và có kết thúc bi thảm. + Lời thoại thường căng thẳng, chất chứa biện luận, thể hiện suy tư trăn trở và ý chí của những nhân cách mạnh mẽ, không khuất phục. - Xung đột trong bi kịch: là những mâu thuẫn gay gắt giữa lựa chọn hành động tự do của nhân vật với cái tất yếu vốn được thể hiện qua những thế lực cụ thể. - Theo dõi bi kịch, người tiếp nhận thấy như đang trải nghiệm những bế tắc trong cuộc sống cùng nhân vật. - Sau đó, thấy căm ghét cái đê tiện, giả dối; ngưỡng mộ, cảm phục cái cao cả; tâm hồn như được thanh lọc, trở nên hài hòa, thăng bằng hơn BÀI 6. NGUYỄN DU- “ NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG” Thể loại Truyện thơ Các văn bản đã học Đặc điểm Truyện - Định nghĩa: Truyện thơ Nôm (hay truyện Nôm) là một thể loại văn thể loại Thơ Nôm học độc đáo của văn học Việt Nam, sáng tác dưới hình thức văn vần (lục bát hoặc song thất lục bát), có cốt truyện, phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX; dùng thơ tiếng Việt viết bằng chữ Nôm (thường là thơ lục bát) để kể chuyện (trần thuật), có khả năng phản ánh về hiện thực xã hội và con người với một phạm vi tương đối rộng. - Phân loại: + Truyện thơ Nôm bình dân do các tác giả trong giới bình dân (thường là khuyết danh) sáng tác, chủ yếu lưu hành trong dân gian, nội dung phản ánh cuộc sống và khát vọng của người dân tầng lớp dưới, ngôn ngữ giản dị gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. +Truyện thơ Nôm bác học do các tác giả là trí thức Nho học (thường có tên tuổi, lai lịch rõ ràng) sáng tác, lưu hành rộng rãi nhưng chủ yếu vẫn trong giới trí thức tinh hoa, có nội dung phản ánh số phận và nhu cầu của giới trí thức, có chất lượng nghệ thuật cao - Cốt truyện:Truyện thơ Nôm có thể sử dụng cốt truyện dân gian, cốt truyện trong văn học viết Trung Quốc hoặc cốt truyện lấy từ chính cuộc đời tác giả và thực tiễn đời sống. Cốt truyện trong truyện thơ Nôm thường được chia làm hai nhóm, thể hiện qua các mô hình sau: BÀI 7. GHI CHÉP VÀ TƯỞNG TƯỢNG TRONG KÍ Thể loại KÍ Các văn bản đã học - Ai đã đặt tên cho dòng sông- Hoàng Phủ Ngọc Tường - “ Và tôi vẫn muốn mẹ”- ( Trích Những nhân chứng cuối cùng- Solo cho giọng trẻ em)- Alexievich
  6. - Cà mau quên xứ- Trần Tuấn Đặc điểm - Khái niệm: Là tên gọi một nhóm các thể/tiểu loại tác phẩm văn xuôi thể loại phi hư cấu có khả năng dung hợp các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thông tin, nhằm tái hiện những trạng thái đời sống đang được xã hội quan tâm và bộc lộ trực tiếp những cảm nghĩ của tác giả - Phân loại: Tùy vào mục đích viết, sự bộc lộ cái tôi tác giả và cách thức tổ chức các phương tiện biểu đạt mà tác phẩm kí được gọi là tùy bút, tản văn, phóng sự hay kí sự, truyện kí, hồi kí, nhật kí, du kí, - Yếu tố tự sự trong tuỳ bút, tản văn là yếu tố kể chuyện, thể hiện qua việc ghi chép, thuật lại các sự việc, câu chuyện, chuỗi tình tiết liên quan tới hành vi, diễn biến tâm trạng, tình cảm của nhân vật hay lịch sử, phong tục được đề cập trong tác phẩm. - Yếu tố trữ tình trong tuỳ bút, tản văn là yếu tố thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của cái tôi tác giả trong tuỳ bút hay của người kể chuyện, quan sát, miêu tả trong tản văn. BÀI 8. CẤU TRÚC CỦA VĂN BẢN THÔNG TIN Thể loại Thông tin Các văn bản đã học - Nữ phóng viên đầu tiên- Trần Nhật Vy - Trí thông minh nhân tạo- Richart Watson - Pa-ra-lim-pích- Một lịch sử chữa lành những vết thương- Huy Đăng Đặc điểm Văn bản - Văn bản thông tin: thể loại thông + Về hình thức: Nhan đề, đề mục, sơ đồ, bảng biểu, chữ in nghiêng tin + Về nội dung: Cung cấp những thông tin về đời sống, xã hội, con người - Bố cục: bố cục, mạch lạc của văn bản, cách trình bày dữ liệu, thông tin của người viết và đánh giá hiệu quả đạt được; biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản. - Cách trình bày dữ liệu: + Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian + Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả + Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề + Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản - Mục đích giao tiếp: Cung cấp thông tin, thuyết phục, giải trí - Quan điểm: Cách tiếp cận, lí giải chủ đề, giọng điệu, cách sử dụng ngôn ngữ BÀI 9. LỰA CHỌN VÀ HÀNH ĐỘNG Thể loại Văn bản đa phương thức Các văn bản đã học - Bài ca ngất ngưởng- Nguyễn công Trứ - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu - Cộng đồng và cá thể- An be Anh- xtanh
  7. Đặc điểm Văn bản - Chủ đề: Có nhiều văn bản văn học có nhiều chủ đề. Xét mức độ biểu thể loại có nhiều hiện đậm hay nhạt, mạnh hay yếu của chủ đề thông qua toàn bộ thế giới chủ đề nghệ thuật được miêu tả, có thể nói đến chủ đề chính và chủ đề phụ. - Văn bản đa nghĩa: Sự đa dạng về chủ đề khiến văn bản trở nên đa nghĩa, đáp ứng sự đón đợi của nhiều độc giả. II. VIẾT Kiểu bài Yêu cầu của kiểu bài Dàn ý 1. Viết đoạn - Giới thiệu ngắn gọn về tác - Mở bài: văn hoặc bài phẩm truyện, đoạn trích + Giới thiệu ngắn gọn về đoạn trích hoặc văn nghị luận được chọn để phân tích (chú tác phẩm truyện bạn sẽ phân tích. về một đoạn ý nêu khái quát các phương + Nêu khía cạnh trong nghệ thuật của tác trích hoặc tác diện làm nên tính nghệ thuật phẩm mà bài viết sẽ tập trung làm rõ. phẩm truyện của tác phẩm mà bài viết sẽ - Thân bài: Căn cứ vào việc xác định các (Những đặc đi sâu phân tích) yếu tố làm nên tính nghệ thuật của đoạn điểm trong - Nêu được và phân tích một trích hoặc tác phẩm truyện mà bạn chọn cách kể của tác cách cụ thể, rõ ràng về các phân tích, triển khai bài viết thành các luận giả) phương diện nghệ thuật đặc điểm tương ứng. Khi phân tích các yếu tố sắc của tác phẩm (nghệ thuật này, có thể đi theo các trình tự: sáng tạo tình huống, xây + Bước 1: miêu tả yếu tố đó, dựng cốt truyện, những nét + Bước 2: chỉ ra chức năng, vai trò của nó; đặc sắc của hình tượng người + Bước 3: đánh giá hiệu quả của nó, kể chuyện, cách tổ chức trần - Kết bài: Khẳng định giá trị nghệ thuật thuật, lời văn và giọng của tác phẩm truyện. điệu, ) - Nêu nhận định, đánh giá về đoạn trích hoặc tác phẩm truyện dựa trên các lý lẽ và bằng chứng thuyết phục với những phân tích có chiều sâu hay thể hiện góc nhìn mới mẻ. - Khẳng định giá trị của tác phẩm được chọn để phân tích. 2. Viết đoạn - Giới thiệu ngắn gọn về - Mở bài: Giới thiệu chung về đoạn thơ, bài văn hoặc bài đoạn thơ hoặc bài thơ (tác thơ và xác định vấn đề sẽ được tập trung văn nghị luận giả, vị trí của bài thơ; lý do bàn luận trong bài viết. về một đoạn lựa chọn bài thơ; ). - Thân bài: Cần triển khai các ý: thơ hoặc tác phẩm thơ (Tìm
  8. hiểu cấu tứ và - Xác định rõ trọng tâm vấn + Cảm giác chung mà cấu tứ cùng những hình ảnh của đề được bàn luận trong bài hình ảnh và cách diễn tả khác lạ trong bài tác phẩm) viết (cấu tứ độc đáo của bài thơ gợi cho người đọc. thơ và sự chi phối của nó + Sự khác biệt của bài thơ này so với các đến hệ thống hình ảnh). bài thơ khác trên phương diện xây dựng hệ - Xem xét vấn đề một cách thống hình ảnh và tạo sự kết nối giữa các toàn diện theo từng khía bộ phận cấu tạo trong bài thơ (thực hiện cạnh cụ thể với những lí lẽ, những so sánh cần thiết để chỉ ra được sự bằng chứng xác đáng. khác biệt). - Đánh giá được nét đặc sắc + Những khả năng hiểu (cắt nghĩa) khác về cấu tứ và hình ảnh của bài nhau đối với một số yếu tố, hình ảnh trong thơ cũng như giá trị của bài thơ (cần nêu cụ thể). chúng trong việc thể hiện + Điều được làm sáng tỏ qua việc đọc thăm những khám phá mới về con dò và thử nghiệm các cách đọc khác nhau người và cuộc sống với bài thơ. + Sự gợi mở về cách nhìn mới đối với thế giới và con người được đề xuất từ mạch ngầm văn bản bài thơ. - Kết bài: Khẳng định lại sự độc đáo của bài thơ và ý nghĩa của nó đối với việc đem lại cách nhìn, cách đọc mới cho độc giả. 3. Viết đoạn - Nêu được vấn đề giàu ý - Mở bài: Giới thiệu vấn đề trong cuộc văn hoặc bài nghĩa, gợi mở cách nhìn sống cần bàn luận. Có thể nêu vấn đề thông văn nghị luận nhận sâu hơn về mối quan hệ qua một câu chuyện, một tình huống đời về một vấn đề giữa con người với cuộc sống, một câu hỏi nhận thức, xã hội (Con sống xung quanh. - Thân bài: Cần triển khai các ý: người với cuộc - Thể hiện được quan điểm rõ + Trình bày bản chất của vấn đề đời sống sống xung ràng của người viết về vấn được bàn luận và nêu quan điểm của người quanh) đề, thông qua hệ thống luận viết (lí lẽ và bằng chứng). điểm chặt chẽ, hợp lí; + Xem xét vấn đề dưới nhiều góc nhìn - Sử dụng được các lí lẽ khác nhau và bàn về những khía cạnh của thuyết phục và bằng chứng vấn đề viết (lí lẽ và bằng chứng). chính xác, thích hợp, đầy đủ, + Bàn luận vấn đề từ góc nhìn trái chiều (lí sinh động. lẽ và bằng chứng). - Đưa ra được những ý kiến + Phân tích tác động của việc nhận thức trái chiều có thể có về vấn đề đúng đắn về vấn đề đối với cá nhân hoặc được bàn luận và có lí lẽ cộng đồng (lí lẽ và bằng chứng). phản bác nhằm tăng sức - Kết bài: Rút ra ý nghĩa của việc bàn luận thuyết phục cho bài viết; vấn đề (gợi mở suy nghĩ, định hướng hành - Rút ra được ý nghĩa của vấn động, ) đề đối với bản thân.
  9. 4. Viết bài văn - Nêu được vấn đề thực sự có - Mở bài: Nêu vấn đề cần bàn luận, nghị luận về ý nghĩa, hướng đến việc hình hướng bàn luận và ý nghĩa chung của việc một vấn đề xã thành lối sống tích cực trong bàn luận về vấn đề (Có thể giới thiệu vấn hội (Hình xã hội hiện đại. đề theo cách trực tiếp hoặc theo cách gián thành lối sống - Triển khai hệ thống luận tiếp nhưng không được dài dòng và cần tích cực trong điểm chặt chẽ, phù hợp với giúp người đọc nắm rõ ngay từ đầu bài xã hội hiện logic của vấn đề để bàn luận; viết sẽ bàn luận về vấn đề gì). đại) sử dụng các lí lẽ thuyết phục - Thân bài: và bằng chứng chính xác, + Miêu tả khái quát hoàn cảnh đời sống thích hợp, đầy đủ. làm nảy sinh vấn đề. - Nêu được ý kiến về vấn đề bàn luận từ một góc nhìn + Phân tích lần lượt từng khía cạnh vấn đề khác. theo trình tự từ hẹp đến rộng hoặc từ rộng - Rút ra được ý nghĩa của đến hẹp với những lí lẽ và bằng chứng phù việc bàn luận về vấn đề. hợp. + Làm rõ sự cần thiết phải nhận thức đầy đủ về vấn đề. + Nêu trải nghiệm của bản thân với vấn đề được bàn luận. + Bàn luận vấn đề từ góc nhìn trái chiều. - Kết bài: Tóm tắt những luận điểm chính đã trình bày và khẳng định ý nghĩa của vấn đề trên cơ sở thu thập nhiều tư liệu và bằng chứng mới. C. ĐỀ LUYỆN TẬP ĐỀ 1 I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau: NHỮNG NỖI LÒNG TÊ TÁI * (Trích Truyện Kiều) Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường? Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân? Mặc người mưa Sở, mây Tần, (2)
  10. Riêng mình nào biết có xuân là gì? Đòi phen gió tựa hoa kề, Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! Đòi phen nét vẽ câu thơ, Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa. Thờ ơ gió trúc mưa mai, Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân. Ôm lòng đòi đoạn xa gần, Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau! Dặm nghìn nước thẳm non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này. Xa xôi ai có thấu tình chăng ai? Mối tình đòi đoạn vò tơ, Giấc hương quan luống lần mơ canh dài. Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng. Chú thích: *Tên đoạn trích: Do GS.TS Trần Đình Sử đặt Đoạn trích: Đây là đoạn thơ miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải tiếp khách ở lầu xanh. Khi biết rơi vào lầu xanh, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị lừa, bị đánh đập tàn nhẫn, cuối cùng phải tiếp khách. (1) Tống Ngọc, Trường Khanh: Tống Ngọc, người nước Sở đời Xuân Thu; Tràng Khanh tức Tư Mã Tương Như, người đời nhà Hán. Tống Ngọc và Trường Khanh, cả hai đều có tài văn học và cũng đều đẹp trai, lãng mạn, đa tình. Tác giả mượn hai nhân vật này, chủ yếu nói lên sự tiếp khách của Kiều đối với đối tượng nào. Vì sớm tối, Kiều phải tiếp khách nhưng toàn là khách phong lưu tài tử (như Tống Ngọc, Tràng Khanh), chớ không phải khách tầm thường. Và cũng do đó, nhờ Kiều mà thanh lâu của mụ Tú Bà càng nổi tiếng, càng đắt khách (2) Mây Sở mưa Tần: tác giả Truyện Kiều mượn cái tính chất của bọn đầu cơ chính trị để nói đến cái tính chất của khách làng chơi từ xa đâu đâu đến, ý nói về khách làng chơi ở khắp nơi đến để thỏa mãn thú vui và thanh toán sòng phẳng cho Tú Bà.
  11. Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Nội dung chính của đoạn trích trên là gì? Câu 2. Không gian mở đầu đoạn trích là không gian như thế nào? Không gian ấy có gì đối lập với tâm trạng của Thúy Kiều? Câu 3. Em hiểu thế nào về 2 câu thơ: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! Câu 4. Nêu tác dụng của điệp từ “ mình” trong đoạn thơ trên. Câu 5. Điều em suy tư nhất khi đọc đoạn thơ trên là gì? Vì sao? II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ ) phân tích, đánh giá đặc sắc nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Những nỗi lòng tê tái - Truyện Kiều- Nguyễn Du. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ ) bàn về cách vượt qua những nỗi buồn trong cuộc sống Đề 2 I.Đọc hiểu Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Cảnh ngày xuân Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử, giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay. Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. (Truyện Kiều-Nguyễn Du) Câu 1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích trên là gì? Câu 2: Nội dung chính của đoạn trích trên là gì? Câu 3: Anh/ chị hiểu hai câu thơ sau như thế nào? Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
  12. Câu 4: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong hai câu thơ sau: Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Câu 5: Qua văn bản trên , anh /chị hãy nêu một thông điệp anh/chị thấy có ý nghĩa nhất với cuộc sống hôm nay và giải thích lí do. II.Viết Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người trong cuộc sống. Câu 2: Anh/ chị hãy viết một bài văn thuyết minh (khoảng 400 chữ) giới thiệu về đoạn trích Cảnh ngày xuân trong phần đọc hiểu (trích trong tác phẩm Truyện Kiều) của Nguyễn Du. ĐỀ 3 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: [...] Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này, người ta nhắc tới anh Hết còn nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp. Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nó biểu: "Lại coi thằng Hết kìa! Ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương". [...] Tía anh Hết năm nay 72 tuổi. Tuổi này, người ta hay đau yếu nhưng ông vẫn còn sỏi lắm. Ông già khó tính, thêm tật lãng tai. Người ta mời ông ngồi, ông cười, xua tay: "Ăn rồi. Ăn cơm với thằng Hết rồi". Chừng năm năm trước, ông còn vô bếp nấu cơm, mắt mũi tèm nhèm để lửa táp vô vách lá, nhà cháy rụi. Anh Hết cất lại nhà trên nền cũ đầy tro, nhìn xa nhà lớn hơn miếu ông Tà một chút [...]. Bữa nào anh Hết cũng chổng mông thổi lửa, rồi dọn cơm sẵn, ngồi dựa cửa trước chờ tía anh về. Có bữa chờ tới mỏi mòn, để bụng đói ngồi ngủ gà gật. Người ở xóm biểu cứ ăn trước đi chớ chờ gì, anh cười, mâm cơm có ấm cúng, tía tôi mới vui miệng, ăn nhiều. Nhưng có bữa, anh mới vừa giở cửa chui vô nhà, ông già đã ngồi nhai cơm cháy, bị nghẹn, mắt ầng ậng nước. Anh thương tía quá chừng vội vàng chạy đi vo gạo. Anh Hết mồ côi má từ mới lọt lòng [...]. Tía anh không đi bước nữa, ngày ngày cột sợi dây võng dài từ nhà trên xuống bếp, vừa đưa vừa nấu nước cháo, hát vọng lên, " Chớ ầu ơ... Cây khô đâu dễ mọc chồi...". Chừng này tuổi rồi, mỗi khi anh đặt lưng xuống bộ vạc, lại nhớ ngơ nhớ ngẩn lời hát của tía anh ngày xưa. Buồn lắm, nghe đứt ruột lắm. Càng nhớ anh càng thương ông. Câu được vài ba con cá rô, anh bắc cái ơ lên kho quẹt, tỉ mẩn lọc phần thịt dành cho tía, phần xương xẩu phần mình. Những trưa nắng tốt, tranh thủ giờ cơm trưa anh xin phép chạy về, dắt tía anh ra ngoài hè tắm rửa, kỳ cọ. Những tối trời mưa, anh lúp xúp cầm cái nón mê đi đón ông già. Đi cạnh, che đầu cho ba, nghiêm trang như đang chở che cho sinh linh nào đó nhỏ bé lắm, yếu ớt lắm. Nhưng ông già đâu có yếu, ông xách gậy rượt đánh anh hoài đó chớ. Tía đầu bạc rượt thằng con đầu xanh chạy cà tưng đuổi nhau lòng vòng quanh mấy cây me già ngoài mé lộ. Đám trẻ xúm lại, vỗ tay như coi hát bội. Hỏi anh Hết sao không chịu chạy nhanh để bị dính đòn, anh bảo, chạy thì được, nhưng càng nhanh thì tía anh càng mệt, chịu có mấy roi nhẹ hều, nhằm gì. Ai nghe nói cũng thương. Đúng là tên sao thì người vậy, chịu thương chịu khó hết mình, hiếu thảo hết mình [...] (Trích Hiu hiu gió bấc, Nguyễn Ngọc Tư, Fanpage Nguyễn Ngọc Tư đăng ngày 13/08/2015) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện. Câu 2. Liệt kê một số chi tiết miêu tả ngoại hình nhân vật cha anh Hết.
  13. Câu 3. Nêu chủ đề của văn bản. Câu 4. Nhận xét một phẩm chất nổi bật của nhân vật anh Hết được thể hiện trong văn bản. Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất với cuộc sống hôm nay và giải thích lí do. II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) làm rõ cảm xúc của chủ thể trữ tình trong văn bản sau: Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây Anh yêu em như anh yêu đất nước Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn. (Nhớ, Nguyễn Đình Thi, Tuyển tác phẩm văn học, Nhà in Bộ LĐTBXH, 2001) Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về tinh thần lạc quan của con người trong cuộc sống. ĐỀ 4 I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau: THỀ NGUYỀN (Trích Truyện Kiều) Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Nhặt thưa (1) gương (2) giọi đầu cành, Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh (3) hắt hiu Sinh vừa tựa án (4) thiu thiu, Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê Tiếng sen (5) sẽ động giấc hòe (6), Bóng trăng đã xế hoa lê (7) lại gần. Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần (8). Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường, Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa.
  14. Bây giờ rõ mặt đôi ta, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?” Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen (9) nối sáp lò đào (10) thêm hương. Tiên thề (11) cùng thảo một chương, Tóc mây (12) một món dao vàng(13)chia đôi. Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song Tóc tơ (14) căn vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng (15) đến xương. (Truyện Kiều, Nguyễn Du) Chú thích: (1) Nhật thưa: (nhật: mau, dày) chỉ ánh trăng chiếu xuyên qua lá cây tạo thành những khoảng sáng không đều nhau, chỗ sáng nhiều chỗ sáng ít. (2) Gương: ở đây chỉ mặt trăng. (3) Trướng huỳnh: xưa có người nhà nghèo không có đèn để đọc sách, phải bắt đom đóm làm đèn học. Do đó, trướng huỳnh được dùng chỉ phòng học của nho sinh, đồng thời gợi ý hiếu học. Cả câu ở đây ý nói : nhìn từ bên ngoài vào thấy ánh sáng đèn từ phòng học của Kim Trọng lọt ra dìu diu. (4) Án: cái bàn học xưa. (5) Tiếng sen: tiếng bước chân nhẹ nhàng của người đẹp. (6) Giấc hòe: Từ điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoè An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bằng mắt tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. (7) Hoa lê: hoa cây lê, ở đây chỉ người đẹp. (8) Đinh Giáp non thần: bài Phú Cao Đường của Tống Ngọc kể rằng vua nước Sở chơi đất Cao Đường nằm mơ thấy một người đàn bà đẹp, hỏi ở đâu, người đó nói là thần nữ núi Vu Giáp. Non thần: thần núi ấy. Cả câu có nghĩa là Kim Trọng cảm thấy Kiều xuất hiện như là thần nữ của núi Vu Giáp. (9) Đài sen: cái đài hình hoa sen để đặt cây nến. (10) Lò đào: cái lò hương hình trái đào. Cả câu ý nói Kim Trọng đặt thêm nến sáp cho thêm sáng, thắp thêm hương cho thêm thơm.
  15. (11) Tiên thề: (tiên: tờ giấy) tờ giấy viết lời thể. (12) Tóc mây: tóc xanh như mây. (13) Dao vàng: chỉ con dao quý, cũng có thể đây chỉ là phép tu từ thuần tuý khi tả con dao mà Kiều và Kim Trọng dùng để cắt tóc thề nguyền, giống như trường hợp bút hoa, lệ hoa, thềm hoa,... (14) Tóc tơ: chỉ những điều chỉ li, tỉ mỉ. (15) Chữ đồng: chữ đồng tâm, đồng lòng. Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích. Câu 2. Các từ vội, xăm xăm, băng được bố trí như thế nào và có hàm nghĩa gì? Câu 3. Ghi lại những câu thơ miêu tả ánh sáng trong trích đoạn. Nhận xét về dụng ý của tác giả trong việc thay đổi sắc độ ánh sáng từ đoạn đầu đến đoạn cuối trong đoạn trích Câu 4. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong những câu thơ sau? Nêu tác dụng "Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song. Tóc tơ cân vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương." Câu 5. Viết đoạn văn khoảng 10 – 12 câu phân tích quan niệm tình yêu của Nguyễn Du được thể hiện trong trích đoạn Thề nguyền. II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đánh giá đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Thề nguyền ở trên. Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về tình yêu tuổi học trò
  16. ĐỀ 5 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: LÊN HÀ GIANG DỰ PHIÊN CHỢ NỔI TIẾNG - CHỢ TÌNH KHÂU VAI Có một phiên chợ mà việc bán mua chẳng quan trọng, nhưng lại là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc ở Hà Giang. Đó là chợ tình Khâu Vai, hay còn gọi là chợ Phong Lưu, tồn tại hơn 100 năm qua, diễn ra ngày 27/3 âm lịch hằng năm. Từ “Khau Vai” trong tiếng Tày - Nùng nghĩa là “đèo gai”. Nhưng nhiều tư liệu dùng chệch thành “Khâu Vai”. Khách đi du lịch Hà Giang còn gọi đùa đây là chợ Phong Tình. Nguồn gốc của chợ phiên này bắt đầu từ truyền thuyết về chàng Ba người dân tộc Nùng và nàng Út người dân tộc Giáy. Họ yêu nhau say đắm nhưng do không cùng dân tộc, không cùng tổ tiên hay phong tục tập quán. Hơn nữa chàng lại là con nhà nghèo còn nàng là con gái tộc trưởng người Giáy. Bởi vậy mối tình của 2 người bị ngăn cấm. [...] Đến khi già, ngày cuối đời họ lại đến đây (núi Khâu Vai), ôm chặt lấy nhau, cùng đi vào cõi vĩnh hằng. Ngày họ ra đi cũng là 27/3. Dân làng thương tiếc về mối lương duyên trắc trở này nên đã dựng lên 2 miếu thờ Ông, thờ Bà và lấy ngày này làm ngày họp chợ cho các đôi trai gái lỡ duyên. Cũng từ đấy chợ tình Khâu Vai hay còn gọi là “chợ Phong lưu” được diễn ra vào ngày 27/3 âm lịch hàng năm. Trước đây người đến chợ không nhiều, chủ yếu là những người có mối tình trắc trở, họ yêu nhau nhưng không lấy được nhau vì những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, những tập tục lạc hậu. Bởi vậy ngày này là để họ có thể tâm sự hàn huyên sau một hoặc nhiều năm xa cách, thông báo tình hình hiện tại của nhau. Có thể hai vợ chồng cùng đến chợ, khi đến chợ chồng đi gặp người yêu cũ của chồng, vợ đi tìm người tình cũ của vợ, không có sự ghen tuông. Họ tôn trọng nhau, tôn trọng quá khứ của nhau, coi đấy là trách nhiệm đối với đời sống tinh thần của nhau. Hết phiên chợ, họ lại quay về cuộc sống thường ngày, hẹn đến chợ năm sau lại tới. Đây chính là nét đẹp văn hóa mộc mạc, giản dị của chợ tình Khâu Vai. Trước đây chợ tình Khâu Vai là chợ của những mối tình trắc trở. Từ năm 1991 trở lại đây đến chợ có nhiều thanh niên nam, nữ các dân tộc trong vùng đến chợ để vui xuân và cũng để tìm bạn tình, nhiều đôi đã nên vợ nên chồng trong dịp đi chợ tình Khâu Vai. Cũng do bản sắc ca ngợi tình yêu lứa đôi trong sáng này mà chợ tình Khâu Vai giờ được tổ chức như một lễ hội, một sản phẩm du lịch cho du khách đến tham quan tìm hiểu văn hóa. Mà mỗi lễ hội đều sẽ có phần lễ và phần hội. Cứ vào ngày 27/3 âm lịch hàng năm, những chàng trai cô gái dân tộc nơi đây khoác trên mình những bộ trang phục đẹp nhất để cùng đến với chợ Phong lưu Khâu Vai. Phần lễ của chợ tình, người dân Khâu Vai sẽ dâng lễ lên miếu Ông, miếu Bà như để nhớ về nguồn cội, những người khai đất khai hoang ra bản làng Khâu Vai và để tôn vinh tình yêu lứa đôi. Già làng làm chủ lễ sẽ dâng hương xin phép bắt đầu lễ hội. Đến phần hội, du khách được chìm đắm trong không khí tưng bừng náo nhiệt của lễ hội, ngây ngất trước khung cảnh núi non hùng vĩ, rạo rực trong tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn du dương, trầm bổng với tiếng khèn Mông, lời hát đối đáp tỏ tình của các chàng trai, cô gái Mông, Nùng, Giáy... Ngoài ra còn có những gian hàng trưng bày sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đặc sản Hà Giang để du khách có thể mua về làm quà sau chuyến đi. [ ] Chợ Phong lưu Khâu Vai không chỉ là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, giá trị nhân văn cao đẹp mà còn là nơi ca ngợi mối tình trong sáng, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng về những giá trị tốt đẹp, góp phần xây dựng và phát triển chuẩn mực đạo đức xã hội,
  17. gia đình, tình yêu đôi lứa. Đây cũng là nơi giao lưu, gặp gỡ để bảo tồn những nét đẹp văn hóa dân gian đặc sắc riêng có của đồng bào các dân tộc thiểu số và quảng bá thu hút du khách đến với Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. ( Theo Phương Linh, hai-dao-vung-dan-toc-thieu-so/tu-truyen-thong-toi-hien-dai/len-ha-giang-du-phien-cho-noi- tieng-cho-tinh-khau-vai-635230.html) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào? Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản. Câu 3. Chỉ ra tác dụng của biện pháp nghệ thuật liệt kê trong câu văn: Đến phần hội, du khách được chìm đắm trong không khí tưng bừng náo nhiệt của lễ hội, ngây ngất trước khung cảnh núi non hùng vĩ, rạo rực trong tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn du dương, trầm bổng với tiếng khèn Mông, lời hát đối đáp tỏ tình của các chàng trai, cô gái Mông, Nùng, Giáy.... Câu 4. Nhận xét về tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện trong văn bản. Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một ước mơ của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên vùng cao nguyên đá mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hiện đại hôm nay và giải thích lí do. II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Tuổi trẻ thường có những đam mê; theo đuổi hay không là lựa chọn của của mỗi người. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về đam mê của tuổi trẻ. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) làm rõ tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ sau: Tự tình I Tiếng gà văng văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau giận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá? Thân này đâu đã chịu già tom (Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, NXB Văn học, 2008) ---------------- HẾT ----------------