Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2203-2024 - Trường THPT Sơn Động số 3

docx 3 trang Gia Hân 18/06/2026 230
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2203-2024 - Trường THPT Sơn Động số 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_cuong_on_tap_kiem_tra_cuoi_hoc_ki_ii_ngu_van_11_nam_hoc_2.docx

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2203-2024 - Trường THPT Sơn Động số 3

  1. TRƯỜNG THPT SƠN ĐỘNG SỐ 3 ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ II NHÓM VĂN Môn: Ngữ văn ; Lớp 11 Năm học: 2023 – 2024 I. HÌNH THỨC KIỂM TRA -Tự luận : 100%. II. THỜI GIAN LÀM BÀI : 90 phút. III. NỘI DUNG A. KIẾN THỨC THỂ LOẠI 1. Truyện - Truyện ngắn, truyện hiện đại, câu chuyện và truyện kể. - Điểm nhìn trong truyện kể - Lời người kể chuyện và lời nhân vật 2. Thơ trữ tình - Cấu tứ trong thơ - Yếu tố tượng trưng trong thơ 3. Văn bản nghị luận - Cấu trúc của văn bản nghị luận: Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng - Yếu tố bổ trợ trong văn bản nghị luận: thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm. 4. Truyện thơ - Truyện thơ và truyện thơ dân gian - Yếu tố tự sự trong thơ trữ tình - Truyện thơ Nôm 5. Kịch - Bi kịch - Nhân vật và xung đột trong bi kịch - Hiệu ứng thanh lọc của bi kịch 6. Kí - Tự sự và trữ tình trong tùy bút, tản văn - Phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí 7. Văn bản thông tin - Các yếu tố hình thức của văn bản thông tin - Bố cục mạch lạc của văn bản thông tin - Cách trình bày dữ liệu trong văn bản thông tin - Mục đích và quan điểm của người viết trong văn bản thông tin. B. CẤU TRÚC KIỂU BÀI 1. Đọc hiểu các kiểu loại văn bản: Văn bản nghệ thuật, văn bản nghị luận, văn bản thông tin. 2. Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) 3. Viết đoạn văn nghị luận văn học (khoảng 200 chữ) 4. Viết bài văn nghị luận xã hội. 5. Viết bài văn nghị luận văn học. 6. Viết bài văn thuyết minh C. ĐỀ MINH HỌA ĐỀ BÀI I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (NGUYỄN THI)
  2. “Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuống lên cho Việt ăn... Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn. Một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân. Việt có một mình ở đây thôi ư? Câu hỏi bật ra trong đầu Việt rồi dội lại trong từng chân lông kẻ tóc. Cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất, trong đêm thứ hai này, khi Việt cảm thấy không còn bò đi được nữa, khi những hình ảnh thân yêu thường kéo đến rất nhanh rồi cũng vụt tan biến đi rất nhanh chỉ vì một cành cây gãy, một giọt mưa rơi trên mặt, hoặc một tiếng động nhỏ của ban đêm. Việt muốn chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày, gặp lại anh Tánh, níu chặt lấy các anh mà khóc như thằng Út em vẫn níu chân chị Chiến, nhưng chân tay không nhấc lên được. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông", cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc... Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai... Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lăng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm... chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ. Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra... Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên... Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ... Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong (Trích: Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi, Truyện và Ký, NXB Văn học giải phóng, 1978) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Câu 2: Câu văn: “Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó.” là lời của ai? Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu “Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi”. Câu 4. Tại sao Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ đối với nhân vật Việt? Câu 5. Bằng việc tìm hiểu về cảm xúc của nhân vật Việt trước khó khăn, kết hợp với hiểu biết xã hội của anh/chị, hãy trả lời câu hỏi: Bạn sẽ làm gì trước những khó khăn, thử thách? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hiệu quả của việc đặt điểm nhìn vào nhân vật Việt trong đoạn trích trên. Câu 2. (4 điểm)
  3. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về nghịch cảnh trong cuộc sống hằng ngày.