Đề cương ôn tập học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2020-2021
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2020-2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_ii_ngu_van_11_nam_hoc_2020_2021.doc
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì II Ngữ văn 11 - Năm học 2020-2021
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 VỘI VÀNG - Xuân Diệu – I. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm: Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú. Ông đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say yêu đời tha thiết. Tiêu biểu cho giọng thơ ấy là bài thơ “Vội vàng”. 2. Khái quát về bài thơ: “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng, in trong tập “Thơ thơ” (năm 1938), là bản tuyên ngôn về lẽ sống vội vàng của nhà thơ. Bài thơ gồm bốn đoạn thơ, có thể chia làm hai phần. Phần một gồm ba đoạn thơ đầu, là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng; phần hai là đoạn thơ cuối, nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”. 3. Nội dung, nghệ thuật bài thơ: Phần đầu: Niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng. a. 4 dòng thơ đầu: thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ – ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.” Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” là những ước muốn kì lạ, chỉ có ở Xuân Diệu. Bởi thi sĩ sợ “màu nhạt mất”, “hương bay đi” – sợ rằng hương sắc, vẻ đẹp của trần gian sẽ phai nhạt mất. thi sĩ muốn níu giữ tất cả hương sắc, vẻ đẹp của trần gian. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao con người tắt được nắng và buộc được gió, đó thật sự là một ước muốn không thể. Cái ước muốn lạ lùng, kì dị ấy đã hé mở một tình yêu vô bờ với trần gian thắm đượm hương sắc này. b. 9 dòng thơ tiếp;Phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc kì thú: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành thơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Bảy câu thơ đầu khổ thơ là cảnh sắc trần gian: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;” Bằng những điệp từ “này đây”; nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, trần gian hiện ra với đầy đủ vẻ đẹp, sắc hương của nó. “Này đây” là “tuần tháng mật” của ong bướm, là thời gian chúng hút nhụy hoa để GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 lấy mật, thời gian chúng vui sống mãnh liệt nhất. “Này đây” là “hoa” của đồng nội “xanh rì”. Đó là hoa cỏ tươi thắm giữa một cánh đồng xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống. “Này đây” nữa là “lá” của một “cành tơ” căng tràn nhựa sống, phơ phất trong gió xuân. Còn những đôi chim “yến anh” đang say đắm trong “khúc tình si”. “Và này đây” nữa là “ánh sáng chớp hàng mi”. Một liên tưởng độc đáo: ánh sáng trần gian tựa như hàng mi của một cô gái đẹp, mỗi khi cô gái chớp mắt thì cả trần gian như si mê. Còn nữa, mỗi sáng sớm, thần Vui lại gõ cửa trần gian, mang đến niềm vui cho nhân loại. Bởi vì thế mà “tháng giêng” “ngon” như “cặp môi gần”. Tháng giêng mơn mởn non tơ, tháng giêng quyến rũ như một người tình rạo rực. Trần gian hiện lên trong cảm nhận của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” là như thế: tươi đẹp, mơn mởn sức sống, chan chứa niềm vui, niềm hạnh phúc, ngập tràn tình yêu. Trần gian này chính là một thiên đường thực thụ, không phải tìm đâu xa. Trần gian này lúc nào cũng tươi xanh mơn mởn như đang giữa mùa xuân. Thi sĩ như ngất ngây, say đắm trong hương sắc của nó. Trần gian là một thiên đường, vì thế mà Xuân Diệu tuyên bố: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Tôi không “sung sướng” sao được khi được sống giữa một thiên đường như thế? Nhưng cũng vì thế mà tôi phải “vội vàng một nửa”. Không vội vàng thì sợ không kịp mất. Tôi “không chờ” cho đến “nắng hạ” mới tiếc nhớ “mùa xuân”, tôi sẽ không để cho tuổi xuân qua đi rồi mới tiếc nhớ thời tươi đẹp ấy. Tôi phải sống ngay từ bây giờ, ngay khi đang còn trẻ, còn đầy sức xuân, khi tâm hồn còn ngập tràn tình yêu. Lời tuyên bố này thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. c. 16 dòng thơ tiếp: Trần gian tươi đẹp là thế, tại sao lại phải “vội vàng”? Khổ thơ thứ ba lí giải cho sự “vội vàng” ấy: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già; Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ? Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa ” Ba câu đầu là quan niệm về sự trôi chảy của thời gian, sự phôi pha của kiếp người: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già; Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.” Từ “xuân” trong ba câu thơ trên có thể được hiểu là mùa xuân, cũng có thể là “tuổi xuân”, tuổi trẻ của con người. Những cụm từ “đương tới” – “đương qua”, “còn non” – “sẽ già” diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Nếu như con người thời trung đại thấy thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu; thì Xuân Diệu đem đến một quan niệm mới mẻ: thời gian tuyến tính. Thời gian là một dòng chảy vô thủy vô chung, mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Và cuộc đời tôi cũng sẽ chẳng còn gì nếu tuổi xuân qua mất. Bởi thế, mà có chút trách móc, tiếc nuối trong bốn câu tiếp: GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !” “Lòng tôi rộng” lắm, với tôi, tuổi trẻ dài bao nhiêu cũng chưa đủ. Nhưng “lượng trời”, tạo hóa lại cứ “chật”, cứ “keo kiệt” với con người: “không cho dài thời trẻ của nhân gian”. Tuổi trẻ ngắn ngủi quá, mong manh hữu hạn quá. Hai câu trên thoáng chút trách móc. Hai câu dưới nồng nhiệt phủ định quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa, bộc lộ niềm tiếc nuối: đời người không có hai lần tuổi trẻ thì làm gì có chuyện thời gian tuần hoàn ! Tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất của đời người lại ngắn ngủi quá ! Niềm tiếc nuối ấy thể hiện rõ hơn trong hai câu tiếp: “Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;” Vũ trụ, đất trời cứ trường tồn mà lại “chẳng còn tôi mãi”, thế nên tôi “bâng khuâng”, ngậm ngùi “tiếc” cả đất trời. Thời gian cứ thế trôi đi không thể trở lại, kiếp người lại ngắn ngủi, hữu hạn, tất cả rồi sẽ phải phai tàn theo thời gian: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?” “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” là một cảm nhận mới lạ, độc đáo. “Tháng năm”, thời gian được cảm nhận bằng “mùi”, “vị chia phôi”. Thi sĩ thấy hiển hiện mỗi khoảnh khắc của thời gian đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ. Chính thời gian cũng đang chia tay với tất cả, mỗi phút giây của nó qua đi là đang mất đi vĩnh viễn. Cho nên, thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông, một lời than triền miên, bất tận: “than thầm tiễn biệt”. Thời gian trôi qua mau chóng, tất cả rồi sẽ phai tàn, héo úa theo nó. “Con gió xinh” tưởng không bao giờ mất, thế mà cũng phải “bay đi”; tiếng chim hót “reo thi” tưởng không bao giờ ngừng nghỉ, thế mà cũng phải “đứt”. Tất cả, tất cả đều phôi pha, phai tàn trước dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Thế nên, câu thơ cuối khổ thơ vang lên đầy nuối tiếc: “Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa ”. Chẳng thể nào kịp nữa nếu không nhanh lên, gấp lên, không “vội vàng” lên. Đến đây, nhà thơ đã hoàn thành xong lời lí giải vì sao phải sống “vội vàng” : cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường; trong khi đó, thời gian một đi không trở lại, và đời người – đặc biệt là tuổi trẻ của con người - lại quá ư ngắn ngủi, hữu hạn, nên chỉ còn một cách là phải sống vội. Đây là quan niệm nhân sinh mới mẻ của một tâm hồn luôn khát khao giao cảm với đời. Phần hai: cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”. d. 10 dòng thơ cuối : Nhà thơ nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng” “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm. Ta muốn ôm, Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn. Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều, Và non nước, và cây, và cỏ rạng. Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.” Mở đầu đoạn thơ là lời giục giã : “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm.” GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Nhà thơ giục giã mọi người mà cũng là giục giã chính mình: hãy mau lên, gấp lên để tận hưởng cuộc sống. “Mau đi thôi!” là câu cảm thán thể hiện sự khẩn trương, hối hả. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là cách nói hình ảnh chỉ con người khi đang còn trẻ, chỉ trần gian khi đang ở độ xuân, chưa phai tàn hết hương sắc. Nhà thơ giục giã hãy nhanh lên, gấp lên khi đang còn trẻ, đang còn tràn trề nhựa sống, đừng hoài phí giây phút nào nữa. Giục giã đã trở thành môtip quen thuộc trong thơ Xuân Diệu: “Nhanh lên chứ, vội vàng lên với chứ! Em, em ơi, tình non sắp già rồi.” (“Giục giã”) “Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai, Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.” Lời giục giã khẩn trương, gấp gáp này đã hé mở lòng yêu đời, ham sống đến tha thiết, rạo rực của một con người luôn sợ thời gian. Sáu câu thơ tiếp theo bộc lộ những hành động sống vội vàng: “Ta muốn ôm, Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều, Và non nước, và cây, và cỏ rạng.” Xuân Diệu muốn “ôm, riết, say, thâu” tất cả sự sống, tất cả trần gian vào mình. Thi sĩ như căng hết cảm giác, xúc giác để sống mãnh liệt, sống hết mình, sống nồng nàn, say mê. Ông phải hành động thật mạnh mẽ, thật mãnh liệt để cảm nhận hết vẻ tươi xinh mơn mởn của đất trời, thu nhận hết hương sắc của trần gian. “Ta muốn ôm” là một câu thơ đặc biệt: chỉ có ba tiếng, lại được đặt ngay giữa dòng thơ, gợi cho người đọc hình dung ra một con người ham hố đang đứng giữa đất trời, dang rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn để đón nhận hết tất cả sự sống, tất cả đất trời vào lòng mình. Câu thơ có cấu tạo đặc biệt này đã thể hiện rõ lòng yêu đời cuồng nhiệt, đắm say của Trảo Nha. Hệ thống động từ “ôm, riết, say, thâu” chỉ những hành động sống vội vàng, mãnh liệt có mức độ tăng tiến đã diễn tả đầy đủ quan niệm “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Qủa thực, đó là lòng yêu đời đến cuồng nhiệt của thi nhân. Thêm nữa, nhà thơ miêu tả trần gian bằng những hình ảnh “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa”, “gió lượn”, “cánh bướm - tình yêu”, “non nước”, “cây”, cỏ rạng”. Trần gian ấy thật tươi đẹp, tràn đầy sức sống, rạo rực tình yêu. Cách miêu tả trần gian ấy cũng bộc lộ lòng yêu đời đến đắm say, rạo rực của Xuân Diệu. Đặc biệt, câu thơ “và non nước, và cây, và cỏ rạng” là một câu thơ độc đáo cho thấy Xuân Diệu xứng đáng với mệnh danh “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Câu thơ lặp lại ba lần từ “và” (nếu như trong văn học trung đại sẽ là một câu thơ dở) là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Ông muốn thể hiện một “cái tôi” ham hố, tham lam muốn vơ hết, thu hết, ôm hết tất cả trần gian, đất trời. Tóm lại, những hành động sống vội vàng, mạnh mẽ muốn “ôm, riết, thâu” cả trần gian, Trảo Nha khẳng định, với ông “vội vàng” là sống hết mình, cống hiến hết mình, là “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Với Xuân Diệu, sống là hành động thật mãnh liệt, hết mình để có thể : Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi. - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Với ông, sống là phải cảm nhận, hưởng thụ hết “mùi thơm”, “ánh sáng”, “thanh sắc của thời tươi”, nghĩa là phải hưởng thụ hết vẻ đẹp, hương sắc của trần gian, phải sống sao cho “thời tươi” của đời người thật ý nghĩa, thật đẹp để sau này không hối tiếc. Các tính từ “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” có mức độ tăng tiến khiến chúng ta hình dung Xuân Diệu như một con ong lảo đảo vui sướng sau khi hút mật ngọt từ nhụy hoa. Ông muốn sống thật hăng say, sống thật mãnh liệt, lúc nào cũng căng tràn nhiệt GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 huyết, để “thời tươi” – tuổi trẻ - được đẹp đẽ nhất, được “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” với niềm vui sướng từ mật ngọt hương đời. Ông còn hình dung tuổi xuân của đời người như một cô gái đẹp và gọi tên nó một cách tha thiết “hỡi xuân hồng”. Cách hình dung cuộc sống như thế cùng với hành động thật vồ vập “cắn” đã thể hiện sự quý trọng thời trẻ của đời người, đồng thời bộc lộ rõ lòng yêu cuộc đời đắm say như yêu người yêu của mình. Tóm lại, với những câu thơ độc đáo, những từ ngữ và nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” đã nêu ra cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng” của mình: Vội vàng là chạy đua với thời gian, là quý trọng từng giây phút của tuổi trẻ, đừng để hoài phí giây phút nào; vội vàng là sống mạnh mẽ, đủ đầy với từng phút giây của sự sống, “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. e. Nghệ thuật : Bài thơ có sự kết hợp hài giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. Mạch cảm xúc thể hiện ở lòng yêu đời đắm say, tha thiết, rạo rực của nhà thơ; mạch luận lí là lời lí giải về lẽ sống vội vàng. Mạch cảm xúc làm cho lí lẽ không trở nên khô khan, triết học, còn mạch luận lí làm cho mạch thơ được tự nhiên, nhuần nhị. Cùng với cách nhìn, cách cảm mới, những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ và cách sử dụng ngôn từ, nhịp điệu sôi nổi dồn dập, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ đã trình bày một quan niệm nhân sinh mới mẻ mà vẫn dạt dào cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết. f.Ý nghĩa văn bản: Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời. LUYỆN TẬP: Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu: “Tôi muốn tắt nắng đi Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu: “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm. . Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.” Đề 3: Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”. Hãy phân tích bài thơ “Vội vàng” để làm sáng tỏ nhận định trên. Hướng dẫn luyện tập đề 1: Tìm hiểu đề 1. Dạng đề: Phân tích một đoạn thơ. 2. Yêu cầu của đề: - Yêu cầu về nội dung: Làm rõ nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ. - Yêu cầu về thao tác: Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh - Yêu cầu về tư liệu: Tư liệu chính là những câu thơ trong đoạn thơ đã cho, tư liệu có liên quan để bổ sung cho ý phân tích. Lập dàn ý GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 I. Mở bài: Giới thiệu tác giả Xuân Diệu, dẫn vào bài thơ “Vội vàng”. Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau: II. Thân bài: 1. Khái quát: Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, bố cục bài thơ, nội dung chính mỗi phần, vị trí đoạn thơ ở đề bài. 2. Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ: Các ý chính cần phân tích: a) Khổ thơ ngũ ngôn đầu bài thơ: Điệp kết cấu “Tôi muốn ”, sáng tạo từ ngữ “buộc” diễn tả ước muốn phi lí Hé mở lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt của thi sĩ. b) Khổ thơ tiếp theo: - Bảy câu thơ đầu: điệp từ “này đây”; nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, hình ảnh thơ tươi vui, sáng tạo, cảm nhận mới lạ, độc đáo -> Trần gian hiện lên trong cảm nhận của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” là như thế: tươi đẹp, mơn mởn sức sống, chan chứa niềm vui, niềm hạnh phúc, ngập tràn tình yêu. Trần gian này chính là một thiên đường thực thụ, không phải tìm đâu xa. Trần gian này lúc nào cũng tươi xanh mơn mởn như đang giữa mùa xuân. Thi sĩ như ngất ngây, say đắm trong hương sắc của nó. - Hai câu sau : Lời tuyên bố sống “vội vàng”. Dùng cách nói hình ảnh để khẳng định: phải sống ngay từ bây giờ, ngay khi đang còn trẻ, còn đầy sức xuân, khi tâm hồn còn ngập tràn tình yêu. Cả đoạn thơ: với phép điệp, nhịp thơ sôi nổi, dồn dập, hình ảnh thơ sáng tạo, cảm nhận mới lạ diễn tả cuộc sống trần gian như một thiên đường và tuyên bố sống vội vàng; từ đó thể hiện quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. III. Kết bài: Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, nêu ý nghĩa đoạn thơ. Bài viết tham khảo. Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú. Ông đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say yêu đời tha thiết. Tiêu biểu cho giọng thơ ấy là bài thơ “Vội vàng”. Bài thơ có nội dung sâu sắc, nghệ thuật độc đáo, mà tiêu biểu là đoạn thơ sau: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành thơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng, in trong tập “Thơ thơ” (năm 1938), là bản tuyên ngôn về lẽ sống vội vàng của nhà thơ. Bài thơ gồm bốn đoạn thơ, có thể chia làm hai phần. Phần một gồm ba đoạn thơ đầu, là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng; phần hai là đoạn thơ cuối, nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”. Đoạn thơ trên thuộc khổ thơ đầu và khổ thơ thứ hai của bài thơ. GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Khổ thơ ngũ ngôn đầu bài thơ thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ – ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.” Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” là những ước muốn kì lạ, chỉ có ở Xuân Diệu. Bởi thi sĩ sợ “màu nhạt mất”, “hương bay đi” – sợ rằng hương sắc, vẻ đẹp của trần gian sẽ phai nhạt mất. Ông muốn níu giữ tất cả hương sắc, vẻ đẹp của trần gian. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao con người tắt được nắng và buộc được gió, đó thật sự là một ước muốn không thể. Cái ước muốn lạ lùng, kì dị ấy đã hé mở một tình yêu vô bờ với trần gian thắm đượm hương sắc này. Khổ thơ tiếp theo, nhà thơ phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc kì thú: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành thơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Bảy câu thơ đầu khổ thơ là cảnh sắc trần gian: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;” Bằng những điệp từ “này đây”; nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, trần gian hiện ra với đầy đủ vẻ đẹp, sắc hương của nó. “Này đây” là “tuần tháng mật” của ong bướm, là thời gian chúng hút nhụy hoa để lấy mật, thời gian chúng vui sống mãnh liệt nhất. “Này đây” là “hoa” của đồng nội “xanh rì”. Đó là hoa cỏ tươi thắm giữa một cánh đồng xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống. “Này đây” nữa là “lá” của một “cành tơ” căng tràn nhựa sống, phơ phất trong gió xuân. Còn những đôi chim “yến anh” đang say đắm trong “khúc tình si”. “Và này đây” nữa là “ánh sáng chớp hàng mi”. Một liên tưởng độc đáo: ánh sáng trần gian tựa như hàng mi của một cô gái đẹp, mỗi khi cô gái chớp mắt thì cả trần gian như si mê. Còn nữa, mỗi sáng sớm, thần Vui lại gõ cửa trần gian, mang đến niềm vui cho nhân loại. Bởi vì thế mà “tháng giêng” “ngon” như “cặp môi gần”. Tháng giêng mơn mởn non tơ, tháng giêng quyến rũ như một người tình rạo rực. Trần gian hiện lên trong cảm nhận của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” là như thế: tươi đẹp, mơn mởn sức sống, chan chứa niềm vui, niềm hạnh phúc, ngập tràn tình yêu. Trần gian này chính là một thiên đường thực thụ, không phải tìm đâu xa. Trần gian này lúc nào cũng tươi xanh mơn mởn như đang giữa mùa xuân. Thi sĩ như ngất ngây, say đắm trong hương sắc của nó. Trần gian là một thiên đường, vì thế mà Xuân Diệu tuyên bố: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Tôi không “sung sướng” sao được khi được sống giữa một thiên đường như thế? Nhưng cũng vì thế mà tôi phải “vội vàng một nửa”. Không vội vàng thì sợ không kịp mất. Tôi “không chờ” cho đến “nắng hạ” mới tiếc nhớ “mùa xuân”, tôi sẽ không để cho tuổi xuân qua đi rồi mới tiếc nhớ thời tươi GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 đẹp ấy. Tôi phải sống ngay từ bây giờ, ngay khi đang còn trẻ, còn đầy sức xuân, khi tâm hồn còn ngập tràn tình yêu. Lời tuyên bố này thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Cả đoạn thơ, với phép điệp, nhịp thơ sôi nổi, dồn dập, hình ảnh thơ sáng tạo, cảm nhận mới lạ độc đáo, nhà thơ đã vẽ ra khung cảnh một thiên đường ngay trên chính mặt đất, bởi thế mà nhà thơ muốn “tắt nắng”, “buộc gió”. Tóm lại, đoạn thơ đầu bài thơ hé mở lòng yêu tha thiết với cuộc đời, cũng là một trong những nguyên nhân khiến Xuân Diệu tuyên bố sống “Vội vàng” : cuộc sống trần gian thật tươi đẹp, vì thế mà con người phải vội vàng lên ngay khi đang còn trẻ. Đoạn thơ thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Đoạn thơ nói riêng, bài thơ nói chung cho ta hiểu được : Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. TRÀNG GIANG -Huy Cận- I. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Giới thiệu tác giả và tác phẩm: Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông sáng tác ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng Tháng tám và ở giai đoạn nào cũng gặt hái nhiều thành công. Trước cách mạng, ông là một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với hồn thơ ảo não. Thơ ông hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Một trong những bài thơ tiêu biểu của ông trước cách mạng là “Tràng giang”. (Nêu vấn đề theo đề bài) 2. Khái quát về bài thơ: Bài thơ được sáng tác vào mùa thu năm 1939, khi đó Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Canh nông ở Hà Nội. Những chiều buồn, nhớ nhà, Huy Cận thường ra bến Chèm bên bờ sông Hồng ngắm nhìn dòng nước mênh mang. Bài thơ được khơi gợi cảm xúc từ đây. Tác phẩm được in trong tập “Lửa thiêng”, viết bằng thể thơ thất ngôn, gồm một câu đề từ và bốn khổ thơ. Nhan đề bài thơ là “Tràng giang”, cũng đồng nghĩa với “Trường giang”, nghĩa là “sông dài”. Nhưng việc điệp lại âm mở “ang” ở nhan đề tạo ra âm hưởng vang xa, không chỉ gợi ra con sông dài vô tận mà còn rộng lớn mênh mang. Nhan đề bài thơ gợi ra nhiều cảm xúc. 3. Nội dung và nghệ thuật: 3.1.Khổ thơ đầu: mở ra bức tranh thiên nhiên tràng giang: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Ba câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ ra hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trôi dạt trên dòng sông rộng lớn, mênh mông. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu đầu mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Nó đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, miên man, miên man đến tận nơi nào. Không chỉ vậy, bằng phép đối giữa câu trên “Buồn điệp điệp” với câu dưới “nước song song”, nhà thơ còn ngầm so sánh nỗi buồn của mình cũng trùng trùng, điệp điệp, triền miên, vô tận như những con sóng. Trên dòng sông gợn sóng “điệp điệp”, “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, con thuyền không người lái, trôi vô định, lững lờ theo dòng nước. Hình ảnh con thuyền trôi nổi, đơn lẻ, vô định dường như càng trở nên bé nhỏ, mất hút đi giữa dòng sông sóng nước mênh mông, càng tô đậm nỗi buồn, sự cô đơn giữa không gian vô tận của nhà thơ. Ở câu ba, thuyền và nước vốn đi liền với nhau, thuyền trôi đi cùng với dòng nước, nước đẩy thuyền trôi theo; thế mà ở đây Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về, nước lại”. Cảnh gợi ra sự cô đơn, xa vắng, chia lìa. Chính vì thế mà gợi ra trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Trăm ngả nước là trăm ngả sầu. Nỗi “buồn” tăng cấp thành nỗi “sầu” chất chứa, chẳng thể vơi GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 được. Câu thơ cuối khổ thơ mang nét hiện đại với một hình ảnh rất đời thường: một cành củi khô trôi dạt giữa “mấy dòng” nước. Phép đảo đưa hình ảnh “củi”, một sự vật bé nhỏ, tầm thường lên đầu câu làm nổi bật cái nhỏ nhoi của nó; và phép đối giữa “một” cành củi khô với “mấy” dòng nước càng nhấn mạnh hơn sự nhỏ nhoi, cô độc đến tội nghiệp của “cành củi khô” với dòng sông mênh mông vô tận. Hình ảnh này gợi liên tưởng đến kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời bất tận. Cả khổ thơ đầu, bằng sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại, nghệ thuật đảo, đối và hệ thống từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã khắc họa bức tranh thiên nhiên tràng giang rộng lớn vô tận, gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa và thân phận của những kiếp người nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng đời. 3.2. Khổ thơ thứ hai: bức tranh tràng giang được hoàn chỉnh thêm bằng những chi tiết mới: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng bến cô liêu.” Hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, nhỏ bé, thưa thớt, còn “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Tất cả gợi ra khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều, hoang vắng. Giữa khung cảnh ấy có lẽ con người càng trở nên đơn côi, rợn ngợp, đến độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái: vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt; vừa có thể là câu hỏi “đâu ” như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người; lại cũng có thể là “đâu có ”, một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Dù hiểu theo cách nào thì cũng vẫn là quang cảnh vắng lặng, hắt hiu. Ở câu ba, câu bốn, thiên nhiên càng mở rộng ra cả bốn chiều: cao, sâu, dài, rộng. “Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa, bởi dường như đất và trời ngày càng xa nhau hơn. Không gian trở nên “sâu chót vót”. Đây là cách diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, nó mang nét đẹp hiện đại. Đôi mắt của nhà thơ không dừng lại ở bên ngoài của trời mây, nắng, mà như xuyên thấu vào đáy vũ trụ thăm thẳm, bao la, vô tận. Chưa hết, cõi không gian ấy không chỉ “cao”, “sâu” mà còn mở ra cả về chiều “dài”, chiều “rộng”: “sông dài, trời rộng”. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông, vô tận, còn những gì thuộc về con người lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: “bến cô liêu”. “Cô liêu” cũng là “cô đơn”, nhưng phải là “cô liêu” thì mới diễn tả hết cái bé nhỏ, đơn độc đến tội nghiệp. Hình ảnh này gợi ra kiếp người cô đơn, quạnh hiu đến đáng thương. Với những nét vẽ mới: cồn nhỏ, gió đìu hiu, làng xa, trời sâu chót vót, bến cô liêu bức tranh tràng giang không những không sống động hơn, mà càng chìm sâu vào tĩnh lặng, cô đơn, hiu quạnh. 3.3. Khổ thơ thứ ba: tiếp tục hoàn thành bức tranh tràng giang với những nét vẽ khác: “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên sự bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không phải là một cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng gợi ra sự rợn ngợp trước thiên nhiên, cõi lòng như càng đau đớn, cô đơn. Giữa không gian tràng giang mênh mông đó không hề có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hòa, nối kết: “Không một chuyến đò ngang”, “không cầu” để nối hai bờ sông rộng lớn, hoang vắng, thê lương. Cấu trúc phủ định “không không ” phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi tận nơi nào. Không có gì kéo con người ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vẫn chỉ có dòng tràng giang rộng lớn mênh mông. Bên cạnh “hàng nối hàng” của cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng”. “Bờ xanh” “lặng lẽ” tiếp với “bãi vàng”, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, không gian càng bao la, vô cùng vô tận. Cảnh có thêm màu sắc nhưng chỉ càng buồn hơn, chia lìa hơn. GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 3.4. Khổ thơ cuối: hoàn thiện nốt bức tranh tràng giang và trực tiếp bộc lộ cõi lòng nhà thơ. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Hai câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh kì vĩ, nên thơ. Cảnh được gợi lên bởi bút pháp nghệ thuật cổ điển với hình ảnh mây trắng, cánh chim chiều. “Mây cao” chồng chất tầng tầng “lớp lớp”, đang “đùn” thành “núi bạc”. Những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc, hình ảnh thơ mang nét đẹp cổ điển, vừa kì vĩ, tráng lệ, vừa nên thơ. Có lẽ, câu thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Huy Cận đã vận dụng tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Giữa khung cảnh rộng lớn, tráng lệ ấy xuất hiện một cánh chim chiều – một hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ, thường để báo hiệu thời gian chiều tối. Tuy nhiên, trong câu thơ của Huy Cận, nó không chỉ là báo hiệu thời gian, mà còn gợi ra không gian bao la vô cùng, vô tận bởi hình ảnh cánh chim nhỏ được đặt trong sự tương phản với không gian mây cao, núi bạc. Hình ảnh cánh chim nghiêng lệch chở nặng ráng chiều càng gợi ra hình ảnh thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ, cô đơn, bất lực trước thời cuộc. Nét tâm trạng này dọc theo toàn bài thơ, không phải chỉ riêng của Huy Cận, mà nó là tâm trạng chung, là “nỗi buồn thế hệ” của các nhà Thơ mới. Nước mất nhà tan, nhân dân nô lệ, chưa đủ niềm tin vào con đường cách mạng, các nhà Thơ mới tìm cách thoát li thực tại, mỗi người một cách khác nhau: Thế Lữ thoát “lên tiên”, Lưu Trọng Lư “phiêu lưu trong trường tình”, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử “điên cuồng” trong thế giới ma quái, kì dị Huy Cận ảo não tìm vào cái vắng lặng, mênh mông, vô tận của vũ trụ để quên đi thực tại đáng buồn. Tâm trạng của nhà thơ bộc lộ rõ nét hơn trong hai câu cuối. “Dợn dợn” là từ láy nguyên rất sáng tạo của Huy Cận. Từ láy này đi cùng với cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương. Đó là nỗi niềm của một người con mất nước: nhớ quê hương ngay khi đang đứng giữa quê hương, khi quê hương đã không còn. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà Thơ mới lúc bấy giờ. Câu thơ cuối được gợi từ câu thơ cổ của Thôi Hiệu trong bài thơ “Lầu Hoàng Hạc” (Hoàng Hạc lâu): “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Xưa, Thôi Hiệu nhìn khói sóng thì buồn, nhớ quê nhà, còn nay, Huy Cận không cần tác động của ngoại cảnh mà vẫn “nhớ nhà”, bởi nỗi nhớ đó da diết lắm, sâu sắc lắm. Trong lòng thi nhân luôn thường trực nỗi nhớ ấy. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương tha thiết của nhà thơ, mới hiểu được “Tràng giang” là bài thơ “dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu). 3.5.Nghệ thuật : - Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại (Cổ điển: thể thơ thất ngôn; những hình ảnh thơ quen thuộc trong văn học trung đại. Hiện đại: sự xuất hiện của những cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa; cảm xúc buồn mang dấu ấn “cái tôi” cá nhân ) - Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm. 4. Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả. * LUYỆN TẬP Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đề 3: Phân tích bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận. Đọc tham khảo cách làm bài với đề văn sau để khắc sâu kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận phân tích một đoạn thơ. Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Tìm hiểu đề 1. Dạng đề: Phân tích một đoạn thơ. 2. Yêu cầu của đề: - Yêu cầu về nội dung: Làm rõ nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ. - Yêu cầu về thao tác: Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh - Yêu cầu về tư liệu: Tư liệu chính là những câu thơ trong đoạn thơ đã cho, tư liệu có liên quan để bổ sung cho ý phân tích. Lập dàn ý I. Mở bài: Giới thiệu tác giả Huy Cận, dẫn vào bài thơ “Tràng giang”. Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau: II. Thân bài: 1. Khái quát: Nêu hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, thể loại, bố cục bài thơ, vị trí đoạn thơ ở đề bài, về nhan đề bài thơ. 2. Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ: Các ý chính cần phân tích: a) Khổ thơ đầu : Bức tranh thiên nhiên tràng giang: - Ba câu đầu: mang màu sắc cổ điển. + Câu đầu: Hình ảnh “sóng”, cụm từ “gợn tràng giang”, từ láy “điệp điệp” -> diễn tả những con sóng liên tiếp vỗ vào nhau, nối đuôi nhau, lan ra rộng dần, xa dần, gợi nỗi buồn triền miên như những con sóng. + Câu hai: Hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, từ láy “song song” -> thuyền và nước không đi liền với nhau mà “song song”, gợi cảm giác rời rạc, buồn tẻ. + Câu ba: Hình ảnh “thuyền về nước lại”, cụm từ “sầu trăm ngả” -> thuyền và nước chia lìa, nỗi buồn tăng cấp thành nỗi sầu, nỗi sầu lan tỏa khắp không gian, trăm ngả nước là trăm nỗi sầu. Cảnh tràng giang gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa. - Câu cuối : mang màu sắc hiện đại. GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Phép đảo đưa hình ảnh “củi” lên đầu câu gợi ấn tượng về sự nhỏ nhoi; phép đối giữa “một” cành củi khô với “mấy” dòng nước nhấn mạnh sự cô đơn, lạc lõng -> gợi liên tưởng đến thân phận những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời. b) Khổ thơ tiếp theo, cũng là khổ thơ cuối bài thơ, vừa hoàn thiện bức tranh tràng giang, vừa trực tiếp bộc lộ nỗi lòng nhà thơ. - Hai câu đầu : bức tranh thiên nhiên tràng giang đậm chất cổ điển. + Câu đầu: Hình ảnh “mây”, “núi bạc”, từ “lớp lớp”, từ “đùn” -> khắc họa khung cảnh tràng giang rộng lớn, hùng vĩ, tráng lệ. + Câu hai: Hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ” giữa bầu trời rộng lớn mênh mông -> gợi sự nhỏ bé đến tội nghiệp. - Hai câu sau: + “Lòng quê” : tấm lòng với quê hương; “dợn dợn” : đong đầy. + Tâm trạng “nhớ nhà”; vận dụng sáng tạo thơ cổ. Lòng yêu quê hương đất nước thầm kín của nhà thơ. c) Nghệ thuật đoạn thơ: - Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại (Cổ điển: thể thơ thất ngôn; những hình ảnh thơ quen thuộc trong văn học trung đại. Hiện đại: sự xuất hiện của những cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa; cảm xúc buồn mang dấu ấn “cái tôi” cá nhân ) - Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm. III. Kết bài : Kết luận chung về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, nêu ý nghĩa đoạn thơ. Bài viết tham khảo. Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông sáng tác ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng Tháng tám và ở giai đoạn nào cũng gặt hái nhiều thành công. Trước cách mạng, ông là một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với hồn thơ ảo não. Thơ ông hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Một trong những bài thơ tiêu biểu của ông trước cách mạng là “Tràng giang”. Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung, đặc sắc về nghệ thuật, nhất là đoạn thơ sau: Bài thơ được sáng tác vào mùa thu năm 1939, khi đó Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Canh nông ở Hà Nội. Những chiều buồn, nhớ nhà, Huy Cận thường ra bến Chèm bên bờ sông Hồng ngắm nhìn dòng nước mênh mang. Bài thơ được khơi gợi cảm xúc từ đây. Tác phẩm được in trong tập “Lửa thiêng”, viết bằng thể thơ thất ngôn, gồm một câu đề từ và bốn khổ thơ. Đoạn thơ trên là khổ thơ đầu và khổ thơ cuối bài thơ. Nhan đề bài thơ là “Tràng giang”, cũng đồng nghĩa với “Trường giang”, nghĩa là “sông dài”. Nhưng việc điệp lại âm mở “ang” ở nhan đề không chỉ gợi ra con sông dài vô tận mà còn rộng lớn mênh mang. Nhan đề bài thơ gợi ra nhiều cảm xúc. Khổ thơ đầu mở ra bức tranh thiên nhiên tràng giang: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Ba câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ ra hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trôi dạt trên dòng sông rộng lớn, mênh mông. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu đầu mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Nó đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, miên man, miên man đến tận nơi nào. Không chỉ vậy, bằng phép đối giữa câu trên “Buồn điệp điệp” với câu dưới “nước song song”, nhà thơ còn ngầm so sánh nỗi buồn của mình cũng trùng trùng, điệp điệp, triền miên, vô tận như những con sóng. Trên dòng sông gợn sóng “điệp điệp”, “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, con thuyền không người lái, trôi vô định, lững lờ theo dòng nước. Hình ảnh con thuyền trôi nổi, đơn lẻ, vô định dường như càng trở nên bé nhỏ, mất hút đi giữa dòng sông sóng nước mênh mông, càng tô đậm nỗi buồn, sự cô đơn giữa không gian vô tận của nhà thơ. Ở câu ba, thuyền và nước vốn đi liền với nhau, thuyền trôi đi cùng với dòng nước, nước đẩy thuyền trôi theo; thế mà ở đây Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về, nước GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 lại”. Cảnh gợi ra sự cô đơn, xa vắng, chia lìa. Chính vì thế mà gợi ra trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Trăm ngả nước là trăm ngả sầu. Nỗi “buồn” tăng cấp thành nỗi “sầu” chất chứa, chẳng thể vơi được. Câu thơ cuối khổ thơ mang nét hiện đại với một hình ảnh rất đời thường: một cành củi khô trôi dạt giữa “mấy dòng” nước. Phép đảo đưa hình ảnh “củi”, một sự vật bé nhỏ, tầm thường lên đầu câu làm nổi bật cái nhỏ nhoi của nó; và phép đối giữa “một” cành củi khô với “mấy” dòng nước càng nhấn mạnh hơn sự nhỏ nhoi, cô độc đến tội nghiệp của “cành củi khô” với dòng sông mênh mông vô tận. Hình ảnh này gợi liên tưởng đến kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời bất tận. Cả khổ thơ đầu, bằng sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại, nghệ thuật đảo, đối và hệ thống từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã khắc họa bức tranh thiên nhiên tràng giang rộng lớn vô tận, gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa và thân phận của những kiếp người nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng đời. Khổ tiếp theo, cũng là khổ thơ cuối bài thơ, hoàn thiện nốt bức tranh tràng giang và trực tiếp bộc lộ cõi lòng nhà thơ. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Hai câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh kì vĩ, nên thơ. Cảnh được gợi lên bởi bút pháp nghệ thuật cổ điển với hình ảnh mây trắng, cánh chim chiều. “Mây cao” chồng chất tầng tầng “lớp lớp”, đang “đùn” thành “núi bạc”. Những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc, hình ảnh thơ mang nét đẹp cổ điển, vừa kì vĩ, tráng lệ, vừa nên thơ. Có lẽ, câu thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Huy Cận đã vận dụng tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Giữa khung cảnh rộng lớn, tráng lệ ấy xuất hiện một cánh chim chiều – một hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ, thường để báo hiệu thời gian chiều tối. Tuy nhiên, trong câu thơ của Huy Cận, nó không chỉ là báo hiệu thời gian, mà còn gợi ra không gian bao la vô cùng, vô tận bởi hình ảnh cánh chim nhỏ được đặt trong sự tương phản với không gian mây cao, núi bạc. Hình ảnh cánh chim nghiêng lệch chở nặng ráng chiều càng gợi ra hình ảnh thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ, cô đơn, bất lực trước thời cuộc. Nét tâm trạng này dọc theo toàn bài thơ, không phải chỉ riêng của Huy Cận, mà nó là tâm trạng chung, là “nỗi buồn thế hệ” của các nhà Thơ mới. Nước mất nhà tan, nhân dân nô lệ, chưa đủ niềm tin vào con đường cách mạng, các nhà Thơ mới tìm cách thoát li thực tại, mỗi người một cách khác nhau: Thế Lữ thoát “lên tiên”, Lưu Trọng Lư “phiêu lưu trong trường tình”, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử “điên cuồng” trong thế giới ma quái, kì dị Huy Cận ảo não tìm vào cái vắng lặng, mênh mông, vô tận của vũ trụ để quên đi thực tại đáng buồn. Tâm trạng của nhà thơ bộc lộ rõ nét hơn trong hai câu cuối. “Dợn dợn” là từ láy nguyên rất sáng tạo của Huy Cận. Từ láy này đi cùng với cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương. Đó là nỗi niềm của một người con mất nước: nhớ quê hương ngay khi đang đứng giữa quê hương, khi quê hương đã không còn. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà Thơ mới lúc bấy giờ. Câu thơ cuối được gợi từ câu thơ cổ của Thôi Hiệu trong bài thơ “Lầu Hoàng Hạc” (Hoàng Hạc lâu): “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Xưa, Thôi Hiệu nhìn khói sóng thì buồn, nhớ quê nhà, còn nay, Huy Cận không cần tác động của ngoại cảnh mà vẫn “nhớ nhà”, bởi nỗi nhớ đó da diết lắm, sâu sắc lắm. Trong lòng thi nhân luôn thường trực nỗi nhớ ấy. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương tha thiết của nhà thơ. Cả đoạn thơ, bằng sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại, mỗi khổ thơ như một bài thơ tứ tuyệt Đường thi mẫu mực mà đậm chất hiện đại. Cùng với nghệ thuật đối, nghệ thuật tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ ngữ giàu giá trị biểu cảm, Huy Cận đã vẽ nên một bức tranh tràng giang đẹp mà mang nặng nỗi buồn, nỗi sầu, sự cô đơn của lòng người. GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Tóm lại, đoạn thơ là bức tranh tràng giang đẹp mà mang nặng nỗi buồn, nỗi sầu, sự cô đơn của cái tôi cô đơn giữa vũ trụ rộng lớn; đồng thời thể hiện niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả. Đoạn thơ nói riêng, bài thơ “Tràng giang” nói chung, đã thực sự “dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc”. (Xuân Diệu) ĐÂY THÔN VĨ DẠ Hàn Mặc Tử I. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN: 1. Giới thiệu về tác giả và tác phẩm: Hàn Mặc Tử là con người tài hoa mà bất hạnh, là “ngôi sao chổi trên bầu thơ Việt Nam” (Chế Lan Viên). Là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào Thơ mới, ông để lại cho đời những vần thơ vừa “điên loạn”, “đau thương” vừa thiết tha, trong sáng. Tiêu biểu cho những vần thơ trong sáng, thiết tha ấy là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. 2.Khái quát về bài thơ: Bài thơ được viết năm 1938, khi Hàn Mặc Tử đã mắc căn bệnh nan y. Thi phẩm được in trong tập “Thơ điên”, được khơi nguồn cảm hứng từ tấm bưu ảnh mà Hoàng Thị Kim Cúc (cô gái thôn Vĩ mà thi sĩ đã yêu, một tình đơn phương) gửi cho ông. Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn, gồm ba khổ thơ. 3.Nội dung và nghệ thuật: a. Khổ thơ đầu: là bức tranh thôn Vĩ vào buổi bình minh: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên. Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc. Lá trúc che ngang mặt chữ điền.” Câu thơ mở đầu là câu hỏi : sao anh lại không trở về thôn Vĩ chơi? Đây là câu hỏi tu từ, hỏi không yêu cầu trả lời. Ở đây, nhà thơ tự phân thân ra để tự hỏi mình. Câu hỏi thoáng chút trách móc, hờn giận, nhưng chủ yếu là bộc lộ nỗi lòng nhà thơ. Câu thơ bảy tiếng thì có sáu tiếng đầu liên tục là thanh bằng. Sáu thanh bằng liên tục ấy tạo ra âm hưởng chơi vơi. Có lẽ nỗi nhớ chơi vơi về thôn Vĩ khiến Hàn Mặc Tử đã mở đầu bài thơ bằng âm hưởng chơi vơi ấy. Cuối câu hỏi là một thanh sắc chói gắt, xoáy vào lòng người, làm người đọc cảm nhận được nỗi xót xa, tiếc nuối vì đã không trở về thôn Vĩ thân yêu. Câu thơ bộc lộ rõ nỗi nhớ chơi vơi và niềm xót xa tiếc nuối của thi sĩ khi không có cơ hội trở về thôn Vĩ. Sau câu hỏi như mời gọi ấy là bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ. Đó là cảnh ở một khu vườn thôn Vĩ vào buổi sáng bình minh, có những ánh nắng đầu tiên của một ngày chiếu dọi lên hàng cau và cả khu vườn ánh lên sắc xanh như ngọc. Cảnh thôn Vĩ được nhìn từ xa nên sự vật đầu tiên mà tác giả trông thấy là “nắng hàng cau” – nắng ban mai chiếu trên hàng cau cao vút. Đó là thứ “nắng mới lên”, thứ nắng gợi ra sự ấm áp, trong trẻo, tinh khôi. Điệp từ “nắng” hai lần trong câu hai gợi tả một không gian tràn ngập ánh nắng, dường như cả khu vườn đang tắm gội dưới ánh bình minh. Tới gần hơn, nhà thơ nhìn thấy vườn “xanh” “mướt” “như ngọc”. “Mướt” là từ tả độ bóng, sự óng ả, mượt mà tràn đầy sức sống của cây lá trong vườn. Từ cảm thán “quá” như một tiếng reo vui kinh ngạc trước vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn. Nó lại ánh lên sắc “xanh như ngọc”. Có lẽ, vào buổi sáng sớm, cây lá còn đẫm sương đêm, được ánh nắng dọi lên nên ánh lên long lanh “như ngọc”. Cảnh thôn Vĩ hiện về trong nỗi nhớ của nhà thơ thật gần gũi, thật đẹp, thật trong trẻo, tinh khôi. Thấp thoáng sau cảnh vật là hình ảnh con người. Con người thôn Vĩ hiện ra với khuôn “mặt chữ điền” – khuôn mặt của người phúc hậu, hiền lành. Khuôn mặt ấy lại thấp thoáng đằng sau “lá trúc” nên càng trở nên duyên dáng, đáng yêu. Cả khổ thơ một là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ vào buổi bình minh đẹp trong trẻo, tinh khôi, tràn đầy sức sống và con người thôn Vĩ phúc hậu, duyên dáng, đáng yêu. Đằng sau bức tranh có cảnh và người đó, người đọc cảm nhận được tấm lòng yêu đời, yêu người đáng quý của nhà thơ bất hạnh. b. Khổ thơ thứ hai : chuyển sang một cảnh khác: cảnh dòng sông đêm trăng “Gió theo lối gió, mây đường mây GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay. Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?” Gió - mây là đôi bạn tâm giao trong vũ trụ. Gió thổi đưa mây bay đi, cả hai cùng hướng. đó là quy luật tự nhiên. Nhưng trong câu thơ của Hàn Mặc Tử thì “gió theo lối gió, mây đường mây”, gió - mây chia lìa đôi nẻo. đây không còn là hình ảnh của thị giác nữa, mà là hình ảnh của mặc cảm. Mặc cảm chia lìa của một con người luôn sợ sẽ phải xa rời trần thế. Mặc cảm ấy đã chia lìa cả những thứ tưởng như không thể chia lìa. Ở câu hai, “dòng nước” được miêu tả “buồn thiu”. Dòng nước trôi chậm, lững lờ đến tĩnh lặng. “Hoa bắp” thì chỉ “lay” nhẹ, chuyển động khẽ khàng, vô hồn. Cảnh thật tĩnh lặng, mang đậm nỗi buồn, hiu hắt. So với khổ thơ đầu, cảnh ở đây hoàn toàn khác. Nắng tắt, chiều xuống, rồi trăng lên. Câu ba, câu bốn tả cảnh dòng sông có trăng soi chiếu. Chắc trăng sáng lắm nên soi tỏ con thuyền. Thuyền “chở” đầy trăng, cả dòng nước tràn đầy ánh trăng trở thành dòng “sông trăng”. Đêm trăng thật đẹp, thật lung linh, huyền ảo. Thế mà có gì đó nghe da diết mà khắc khoải : “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Câu hỏi tu từ và động từ “kịp” gợi ra sự chờ đợi đến khắc khoải. Có về “kịp” tối nay không? Dường như, nếu trăng không về “kịp” thì kẻ bị số phận bỏ rơi trong đau khổ ấy sẽ hoàn toàn tuyệt vọng, đau thương. Với các thi nhân, trăng là người bạn thân thiết. Lí Bạch bất chợt bắt gặp ánh trăng ở đầu giường thì nhớ về quê hương (“Tĩnh dạ tứ” - Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh). Bác Hồ của chúng ta ở trong tù có trăng làm bạn (“vọng nguyệt” - Ngắm trăng), khi ra tù làm cách mạng lại có trăng cùng “bàn bạc việc quân” (“Nguyên tiêu” - Rằm tháng giêng) Còn với Hàn Mặc Tử lúc này, trăng là tri âm tri kỉ, là cứu cánh duy nhất để con người bất hạnh này thoát khỏi cô đơn và mặc cảm chia lìa. Nỗi niềm khắc khoải chờ đợi trăng ấy của nhà thơ khiến người đọc nhận ra khát khao giao cảm với đời, với người của thi nhân. c. Khổ thơ cuối: Nếu như khổ một, khổ hai nỗi nhớ chủ yếu hướng về cảnh thì khổ thơ thứ ba lại hướng về con người: “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá, nhìn không ra. Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, Ai biết tình ai có đậm đà?” Con người hiện ra trong “mơ” hư ảo, chập chờn. Đó lại là “khách đường xa”, là khách ở nơi xa xôi. Phép điệp lặp lại hai lần cụm từ “khách đường xa” càng tô đậm thêm sự xa xôi, hư ảo. Đến câu thơ thứ hai, dường như thiếu nữ thôn Vĩ hiện ra rõ ràng hơn trong màu “trắng” của “áo em”. Sắc “trắng” được cực tả “trắng quá” để miêu tả vẻ đẹp trong trắng, trinh khiết của “em”. Nhưng sắc trắng ấy cũng làm tôi “nhìn không ra”. Thì ra là vậy. “Em” vẫn chập chờn, hư ảo quá, xa xôi quá, khó với tới quá. Với tôi, em là như vậy. Niềm đau ấy khiến thi sĩ quay trở lại với thực tại của mình: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. “Ở đây”, nơi tôi đang sống đây, trong cõi lòng tôi đây, thì chỉ còn là “sương khói mờ nhân ảnh”, chỉ còn sự u ám, lạnh lẽo, cô đơn. Cuối bài thơ là một câu hỏi : “Ai biết tình ai có đậm đà?” Tình yêu đơn phương với Hoàng Cúc khiến nhà thơ day dứt, băn khoăn: Không biết, em có biết tình tôi dành cho em đậm đà lắm hay không? Không biết tình cảm của em với tôi có chút gì đậm đà chưa? Câu thơ chứa đựng niềm day dứt mà vẫn rất tha thiết của một con người đang yêu nhưng lại sợ tình yêu không thành. Nó khiến cho người đọc thêm cảm thương cho thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh, yêu say đắm mà suốt đời lại phải sống trong cô đơn, tật bệnh. d. Cuối cùng, không thể không nhắc đến đại từ “ai” rải rác trong bài thơ: Cả bốn lần, đại từ phiếm chỉ này xuất hiện trong bài thơ đều mơ hồ, ám ảnh: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” “Ai biết tình ai có đậm đà?” Con người nhà thơ nói đến là phiếm chỉ, xa vắng trong hoài niệm, mông lung trong cảm xúc. Hi vọng về mối tình đơn phương ấy như đang nhạt nhòa theo sương khói. Không chỉ thế, đại từ “ai” còn tạo ra nét duyên dáng “rất Huế” cho cả bài thơ. e. Nghệ thuật : GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Với trí tưởng tượng phong phú cùng với nghệ thuật so sánh, nhân hóa; thủ pháp lấy động tả tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ và những hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo, Hàn Mặc Tử đã dẫn người đọc trở về với thôn Vĩ thơ mộng, hữu tình; đồng thời thể hiện lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ. f.Ý nghĩa văn bản: Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ. 2. LUYỆN TẬP: Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Đề 2: Phân tích vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên. Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc. Lá trúc che ngang mặt chữ điền.” (“Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử) Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh tự làm bài tập luyện tập. BÀI TẬP ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi : Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất hiện trên thi đàn văn học đã tạo ra một bất ngờ lớn nhưng sự xuất hiện của Hàn Mặc Tử còn tạo ra sự ngạc nhiên hơn nhiều. Một đời thơ không dài nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một lượng tác phẩm đáng phục và anh được ví như "ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học" và làm người ta nhớ mãi không quên. Hàn Mặc Tử khiến người ta nhớ đến bởi giọng thơ độc đáo mới lạ của một hồn thơ luôn quằn quại đau đớn trong bất hạnh. Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm. Tất cả thể hiện một tình yêu đời tha thiết, khao khát tình người đến cháy bỏng. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế. Mười hai câu thơ là một mạch cảm xúc chan chứa tình cảm với xứ Huế thơ mộng, với con người trần thế. ( Trích Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 11- Nguyễn Trọng Hoàn) 1/ Nêu ý chính của văn bản ? 2/ Xác định câu chủ đề của văn bản ? Văn bản sử dụng thao tác diễn dịch hay quy nạp ? 3/ Xác định biện pháp tu từ về từ trong câu văn Một đời thơ không dài nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một lượng tác phẩm đáng phục và anh được ví như "ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học" và làm người ta nhớ mãi không quên.? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? 4/ Xác định biện pháp tu từ cú pháp trong câu văn Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? 5/ Viết đoạn văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về tình người của tuổi trẻ hôm nay. Trả lời: 1/ Ý chính của văn bản : Giới thiệu sự xuất hiện của nhà thơ hàn Mặc Tử trong phong trào Thơ Mới ( 1930-1945) và khái quát vẻ đẹp của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. 2/ Câu chủ đề của văn bản: Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) xuất hiện trên thi đàn văn học đã tạo ra một bất ngờ lớn nhưng sự xuất hiện của Hàn Mặc Tử còn tạo ra sự ngạc nhiên hơn nhiều. Văn bản sử dụng thao tác diễn dịch. 3/ Biện pháp tu từ về từ trong câu văn : so sánh ( anh được ví như "ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học" ) GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Hiệu quả nghệ thuật: Gợi hình ảnh cụ thể về chân dung nhà thơ Hàn Mặc Tử - tài hoa mà mệnh yểu- trong văn học lãng mạn Việt nam 1930-1945. 4/ Biện pháp tu từ cú pháp trong câu văn: liệt kê (thơ điên, thơ say, thơ siêu thực; giọng thơ trữ tình đằm thắm) ; Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó : làm rõ sự đa dạng trong giọng thơ Hàn Mặc Tử, đặc biệt nhấn mạnh đóng góp giọng thơ trữ tình của anh. 5/ Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu : -Hình thức : đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành ; -Nội dung: Từ nhận định thơ hàn Mặc Tử thể hiện khao khát tình người, thí sinh suy nghĩ đến tình người của tuổi trẻ hôm nay. Trả lời các câu hỏi : tình người là gì ? Ý nghĩa của tình người dành cho tuổi trẻ ? Phê phán một bộ phận giới trẻ sống không có tình người. Từ đó, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân. CHIỀU TỐI - Hồ Chí Minh – A. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN I. Về tác giả và tác phẩm: Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Người không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Một trong số đó là bài thơ “Chiều tối”. (Nêu vấn đề theo đề bài) II. Khái quát về bài thơ: Bài thơ thuộc tập thơ “Nhật kí trong tù” – viết trong khoảng thời gian người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà lao ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). “Chiều tối” là bài thứ 31 trong 134 bài của tập thơ, được gợi cảm hứng trong lần Người bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. III. Nội dung và nghệ thuật: 1. Hai câu đầu: khung cảnh thiên nhiên núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối. “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. (“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không”.) Bằng bút pháp chấm phá trong thơ cổ, chỉ với vài nét vẽ “chim” và “mây”, Bác đã vẽ ra bức tranh núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối. Trong thơ ca cổ, hình ảnh cánh “chim” thường tượng trưng cho thời gian chiều tối: “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao) “Chim hôm thoi thót về rừng” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du) Thế nên, ngay đầu bài thơ, dù không có một từ chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được không gian sắp về tối. Tuy nhiên, thi liệu cổ ấy (“chim”) đã được Bác vận dụng sáng tạo. Trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường được miêu tả qua trạng thái bên ngoài của nó (bay). Còn trong thơ Bác, Người cảm nhận sâu sắc trạng thái bên trong của nó : “chim mỏi” sau một ngày kiếm ăn vất vả. Tấm lòng thương yêu vô bờ bến của con người “chỉ biết quên mình cho hết thảy” đã đồng cảm với cánh chim mỏi mệt ấy. Bức tranh núi rừng buổi chiều muộn còn có “mây”. Đây cũng là thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” ( Thu điếu – Nguyễn Khuyến) “Cô vân độc khứ nhàn” (Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình - Thơ Lí Bạch) GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Nếu như hình ảnh đám mây trong thơ ca xưa thường gợi ra sự nhàn tản, thoát tục của một nhà nho tìm về với chốn làng quê ẩn dật thì trong thơ Bác, nó là hình ảnh của hiện thực. Trên đường chuyển lao, ánh mắt Bá hướng lên cao và bắt gặp đám mây trôi chầm chậm, lơ lửng (“mạn mạn”) trên bầu trời. Đám mây ấy gợi ra không gian tĩnh lặng nhưng cũng thanh bình, thơ mộng của vùng rừng núi buổi chiều muộn. Những cụm từ “quyện điểu” (chim mỏi) và “cô vân” (đám mây lẻ) vừa gợi tả cảnh, vừa gợi lên tâm trạng của con người. Sau một ngày bị giải đi bộ vất vả trên đường rừng núi gập ghềnh, chân tay lại bị xiềng xích, chờ đợi phía trước lại là một nhà lao khác chật chội, bẩn thỉu; lại đang ở nơi đất khách quê người nên Bác cũng cảm thấy mệt mỏi, cô đơn. Tuy vậy, ánh mắt Bác vẫn hướng lên bầu trời, đồng cảm với cánh chim “mỏi”, thả hồn theo đám mây lẻ trôi lững lờ. Phải có một tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết và một phong thái ung dung, tự tại, vượt lên trên hoàn cảnh thì mới có thể chan hòa cùng với thiên nhiên như thế. Hai câu đầu vừa đậm màu sắc cổ điển với bút pháp chấm phá và những hình ảnh thơ cổ; vừa đậm tính hiện đại với vẻ đẹp tâm hồn của người tù – chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là “chất tình” dào dạt và chất “thép” cứng cỏi thường gặp trong thơ Người. 2. Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống con người miền sơn cước: “Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng”. (“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.) Trên con đường chuyển lao, ánh mắt người tù cộng sản nhận ra người lao động trong công việc: cô gái xóm núi xay ngô. Cũng như các nhà thơ, nhà văn xưa, tấm lòng nhân đạo của họ hướng về những con người yếu đuối: người phụ nữ có số phận bất hạnh (Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; nàng Vũ Nương trong truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ; nàng chinh phụ lẻ loi chờ chồng trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn ); Bác cũng hướng tới người phụ nữ, nhưng trong thơ Bác, đó lại là một người phụ nữ lao động bình thường, giản dị trong lao động. Đó chính là tình yêu thương của một chiến sĩ cộng sản đối với con người thuộc giai cấp vô sản, nhân dân lao động – đối tượng mà người dành cả cuộc đời mình đấu tranh vì họ. Điệp ngữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được lặp lại ở đầu câu bốn, gợi tả những vòng xoay liên tục, liên tục của cái cối xay ngô. Những vòng xoay liên tục ấy gợi ra không khí làm việc miệt mài, chăm chỉ và vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của cô gái xóm núi. Cuối bài thơ là chữ “hồng”, được xem là “nhãn tự” của bài thơ. Một chữ “hồng” gợi không gian sáng rực, gợi không khí ấm áp, tươi vui. Thế đấy, dù đang mệt mỏi, cô đơn là thế, chỉ cần nhìn thấy người lao động cần cù, chăm chỉ trong cuộc sống đời thường, tâm hồn Bác đã rực lên niềm vui, ấm áp trở lại. Không như quy luật thông thường, chiều rồi chuyển dần về tối, cuối bài thơ lại là không gian sáng rực. Cái tài tình của Bác cũng là ở chỗ này. Cả bài thơ không có một chữ “tối”, thế mà người đọc vẫn thấy thời gian đã về tối rồi. Chính cái ánh lửa đỏ rực của lò than khiến người ta nhận ra điều đó, bởi trời có tối thì nhìn từ xa mới thấy được ánh lửa đỏ rực lên. Cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động trong tư tưởng của Người: từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo cô đơn sang ấm nóng tình người. Bác là thế đấy: dạt dào tình yêu – yêu con người, yêu cuộc sống mà vẫn luôn cứng cỏi, kiên cường, luôn lạc quan, yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tương lai. Hình ảnh con người trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên và mạch thơ vận động hướng về sự sống, về ánh sáng ấy khiến hai câu sau đậm tính hiện đại. Cả bài thơ chỉ với hai mươi tám chữ mà chứa đựng biết bao nhiêu cảm xúc, ý nghĩa. Người đọc không thể nào quên được một tâm hồn thi sĩ chan chứa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, yêu cuộc sống và cũng không thể nào quên được bản lĩnh “thép” của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh – dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, vượt lên trên tất cả để vui với niềm vui của người lao động, để hướng về phía ánh sáng, tương lai. Tóm lại, “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù”. Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại làm bài thơ vừa có dáng dấp của một bài thơ tứ tuyệt cổ kính vừa mang đậm tinh thần thời đại. Bài thơ vẽ ra bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người miền sơn cước mà Bác thấy trên đường chuyển lao, từ đó người đọc thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống; tinh thần lạc quan yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tin tưởng vào tương lai của thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 Minh. Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho “những vần thơ thép” mà vẫn “mênh mông bát ngát tình” của Bác. 3. Nghệ thuật : Với hệ thống từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn bài thơ bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. IV. Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống. B. Luyện tập: Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau: Đề 1: Phân tích bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh. Đề 2: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh. Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh tự làm bài tập luyện tập. TỪ ẤY - Tố Hữu – A. ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN I. Giới thiệu về tác giả và bài thơ: Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Con đường thơ của Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc. Ông có nhiều tập thơ lớn với nhiều bài thơ hay, trong đó có “Từ ấy”. II. Khái quát về bài thơ: “Từ ấy” là tập thơ đầu tay của Tố Hữu, được sáng tác từ năm 1937 đến năm 1946. Tập thơ có ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Gỉai phóng. Bài thơ “Từ ấy” nằm trong phần “Máu lửa” của tập thơ này. Bài thơ được viết để ghi nhận một kỉ niệm đáng nhớ, tạo nên một bước ngoặt trong cuộc đời Tố Hữu, đó là khi nhà thơ được đứng vào hàng ngũ những người cộng sản, phấn đấu vì một lí tưởng cao đẹp. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn, chia làm ba khổ, ghi lại những tâm trạng của nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng của Đảng. III. Nội dung, nghệ thuật bài thơ: 1. Khổ thơ đầu, nhà thơ diễn tả niềm say mê, vui sướng khi gặp lí tưởng Cộng sản: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim. Hồn tôi là một vườn hoa lá. Rất đậm hương và rộn tiếng chim.” Hai câu đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình. “Từ ấy” là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc đời cách mạng Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, đang hoạt động sôi nổi trong Đoàn Thanh niên Cộng sản Huế, được giác ngộ lí tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ”, “mặt trời chân lí”, “chói qua tim”, Tố Hữu khẳng định lí tưởng Cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng âý không phải là ánh thu vàng nhẹ hay ánh xuân dịu dàng, mà là ánh sáng rực rỡ của một ngày “nắng hạ”. Hơn thế, nguồn sáng ấy còn là mặt trời, và là mặt trời khác thường – “mặt trời chân lí”. Nếu mặt trời của đời thường tỏa ánh sáng, hơi ấm và sự sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu tỏa ra những tư tưởng đúng đắn, hợp lẽ phải. Cách gọi lí tưởng là “mặt trời chân lí” như thế thể hiện thái độ GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- HƯỚNG DẪN ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 – HỌC KÌ 2- NĂM HỌC : 2020 - 2021 thành kính, ân tình của nhà thơ. Thêm nữa, những động từ “bừng” – chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, “chói” – chỉ ánh sáng có sức xuyên mạnh, càng nhấn mạnh: ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm. Ở hai câu sau, bút pháp trữ tình lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản. Nhà thơ thấy tâm hồn mình như một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âm thanh rộn rã của tiếng chim ca hót. Đối với vườn hoa lá ấy thì còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người thanh niên đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” thì còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt. Tóm lại, Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh ánh sáng mặt trời. Chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn nhà thơ tràn đầy sức sống, niềm yêu đời, làm cho cuộc đời có ý nghĩa hơn. 2. Khổ thơ thứ hai biểu hiện những nhận thức mới về lẽ sống: “Tôi buộc hồn tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi, Để hồn tôi với bao hồn khổ, Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao cái “tôi” cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống của ông là sự gắn bó hài hòa giữa cái “tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người. Với động từ buộc, câu một thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hòa với mọi người “trăm nơi”. Với từ ‘trang trải” ở câu hai cho thấy tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với những kiếp người cùng khổ. Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố Hữu không phải là thứ tình thương chung chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp. Câu ba khẳng định trong mối liên hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ở câu bốn, “khối đời” là một ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặt chẽ với nhau cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Có thể hiểu : khi “cái tôi” chan hòa trong “cái ta”, khi cá nhân hòa mình vào một tập thể cùng lí tưởng thì sức mạnh sẽ nhân lên gấp bội “mạnh khối đời”. Tóm lại, Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ, ở đấy nhà thơ đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới. 3. Khổ thơ cuối cho thấy sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu: “Tôi đã là con của vạn nhà, Là em của vạn kiếp phôi pha, Là anh của vạn đầu em nhỏ, Không áo cơm cù bất cù bơ.” Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn vượt qua tình cảm ích kỷ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ. Hơn thế, đó còn là tình cảm thân yêu ruột thịt. Những điệp từ “là” cùng với các từ “con, em, anh” và số từ ước lệ “vạn” (chỉ số lượng đông đảo), nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết, cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc mình là một thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ. Cách gọi quần chúng là “kiếp phôi pha” – chỉ những người lao động vất vả, thường xuyên dãi nắng dầm mưa để kiếm sống; là “vạn đầu em nhỏ, không áo cơm cù bất cù bơ” – chỉ những em bé không nơi nương tựa, phải sống lang thang vất vưởng nay đây mai đó, đã cho thấy tấm lòng đồng cảm, xót thương chân thành của nhà thơ, đồng thời cũng thấy được lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công, ngang trái của cuộc đời cũ. Chính vì những kiếp người “phôi pha”, những em bé “không áo cơm cù bất cù bơ” âý mà Tố Hữu sẽ hăng say hoạt động cách mạng. Họ cũng chính là đối tượng sáng tác của nhà thơ. 4. Nghệ thuật: GV: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2

