Tài liệu ôn tập Ngữ văn 11 - Bài: Các đề văn về truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập Ngữ văn 11 - Bài: Các đề văn về truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_on_tap_ngu_van_11_bai_cac_de_van_ve_truyen_ngan_hai.pdf
Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Ngữ văn 11 - Bài: Các đề văn về truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
- HƯỚNG DẪN LÀM CÁC ĐỀ VĂN VỀ TRUYỆN NGẮN HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM ĐỀ 1: Nói về Thạch Lam, SGK Ngữ văn 11,tập 1 có nhận định : “Mỗi truyện ngắn của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người. Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà sâu sắc”. Anh / chị hãy làm rõ nhận định trên qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam. Gợi ý: 1. Về tác giả, Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc của Tự lực văn đoàn ở giai đoạn 1930 – 1945. Truyện ngắn Thạch Lam có phong cách đặc sắc (như nhận định nêu ở đề bài). 2. “Hai đứa trẻ” (in trong tập “Nắng trong vườn”) là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam. a. “Hai đứa trẻ” giống như “một bài thơ trữ tình” : - Truyện không có cốt truyện, mà kết cấu theo dòng tâm trạng của nhân vật Liên, tạo nên chất thơ trữ tình. - Tình quê sâu lắng : những rung cảm êm ái về một chiều êm ả như ru, những rung cảm trước cảnh đêm yên tĩnh của miền quê Việt Nam - Những cảm xúc tinh tế của một tâm hồn dễ rung động. Đó là tâm hồn của một cô gái mới lớn : nhạy cảm mà sâu lắng. Tâm hồn Liên là tâm hồn biết yêu thương và biết ước mơ. Tâm hồn nhạy cảm của Liên cũng chính là tâm hồn nhạy cảm của Thạch Lam. - Giọng văn Thạch Lam điềm đạm, nhỏ nhẹ. Nhịp điệu kể chuyện chậm rãi. Từ ngữ nhẹ nhàng mà đầy sức gợi. - Chất thi vị của truyện còn toát lên từ niềm khao khát đợi tàu của Liên và An, của những người dân nơi phố huyện. Đoàn tàu như mang đến một thế giới giàu sang, nhộn nhịp và đầy ánh sáng, khác hẳn với cái vầng sáng tù mù của mấy ngọn đèn leo lét nơi phố huyện nghèo. b. “Hai đứa trẻ” “chứa đựng biết bao nhiêu tình cảm mến yêu chân thành của tác giả”. Đó là niềm xót thương những mảnh đời mòn mỏi nơi phố huyện nghèo. - Qua cái nhìn và xúc cảm của nhân vật Liên, nhà văn khiến người đọc cảm động về những kiếp người như mấy đứa ttẻ con nhà nghèo, mẹ con chị Tí, bà cụ Thi điên, gia đình bác Xẩm, bác phở Siêu. - Nhưng tình cảm mến thương của tác giả vẫn dành nhiều nhất cho hai đứa trẻ – chị em Liên, bỏ Hà Nội về sống đời mòn mỏi, tối tăm nơi phố huyện. Bức tranh đời sống ấy vừa làm nên chất hiện thực, vừa chứa đựng tấm lòng nhân ái của nhà văn. c. “Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà sâu sắc” : - Ngòi bút tự sự kết hợp chặt chẽ với miêu tả và trữ tình, khắc họa bức tranh đời sống thật cảm động và cũng vẽ nên bức tranh quê hương đầy thương mến. - Từ ngữ giản dị, không đao to búa lớn, thích hợp với việc diễn tả những rung động mơ hồ, tinh tế của lòng người và gợi nỗi buồn thương
- ĐỀ 2: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam). Gợi ý: I. Mở bài - Thạch Lam (1910 – 1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân. Ông sinh và mất ở Hà Nội, nhưng khi còn ấu thơ có một thời gian ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông là em ruột hai nhà văn Nhất Linh và Hoàng Đạo, và là một trong những cây bút chủ chốt của “Tự lực Văn Đoàn”. - Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn tài hoa, xuất sắc. Truyện của ông thường không có cốt truyện đặc biệt. Mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đượm buồn. + Ông thường đi sâu khai thác đời sống nội tâm nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ, mong manh, tinh tế. + Hai yếu tố “Hiện thực và lãng mạn, tự sự và trữ tình thi vị” luôn luôn đan cài, xen kẽ vào nhau, tạo nên nét đặc thù, đặc sắc khó lẫn trong trong phong cách nghệ thuật của ông. - “Hai đứa trẻ” rút từ tập truyện “Nắng trong vườn” – 1938 là tác phẩm xuất sắc tiêu biểu cho đời văn và phong cách Thạch Lam. II. Thân bài 1. Một bức tranh quê đầy chất thơ - Đặc điểm của truyện: “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn đơn giản hầu như không có chuyện. + Rất khó tìm được ở đây những sự kiện mang tính chất kịch, bi hài như sáng tác của Nguyễn Công Hoan, những cuộc vật lộn, đau đớn, giằng xé về mặt nội tâm như những trang văn của Nam Cao. + Đọc truyện Thạch Lam, người ta chỉ cảm nhận bằng tâm hồn, bằng tất cả các giác quan, chứ ít khi có thể tóm tắt mạch lạc toàn bộ diễn biến của cốt chuyện. + Truyện chỉ kể lại hình ảnh hai đứa trẻ ngồi trên chiếc chõng nát ngắm nhìn phố xá chìm dần vào đêm tối, tuy “đã buồn ngủ ríu cả mắt” nhưng vẫn cố thức để đợi chuyến tàu đêm đấy ánh sáng vụt qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ. + Câu chuyện đơn sơ như vậy sẽ làm thất vọng cho những ai muốn đi tìm cốt chuyện giàu kịch tính với những chi tiết li kì, lắt léo. Tuy nhiên, dưới ngòi bút Thạch Lam, “Hai đứa trẻ” không hề nhạt nhẽo, trái lại rất ám ảnh, thấm thía, đầy dư vị với cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết tha. - Tác phẩm mở đầu bằng một bức tranh chiều quê phố huyện sinh động như một bài thơ về quê hương quen thuộc mà rất thi vị: + “Chiều, chiều rồi! Một chiều êm ả như ru”. Lời văn rất nhẹ nhàng, nhịp văn êm ái đã đưa con người vào thế giới thanh bình của cảnh vật. + Ngòi bút tinh tế và tạo hình của Thạch Lam chỉ chấm phá vài nét mà đã vẽ được một bức tranh rất sinh động với đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương vị: . “phương Tây đỏ rực và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mắt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. . Giữa những hình ảnh sinh động của cảnh vật vang lên âm thanh “tiếng trống thu không” gọi buổi chiều xen lẫn với tiếng “ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo làn gió nhẹ đưa vào”, “muỗi bắt đầu vo ve”.
- + Chỉ bằng mấy câu văn ngắn gọn, Thạch Lam đã đưa độc giả trở về khung cảnh đầy linh hồn êm ả, thị vị mà đượm buồn, thân thiết của quê hương, làng mạc, của nông thôn Việt Nam muôn đời. + Nó khơi gợi trong tâm hồn con người một tình cảm gắn bó thiết tha với miền quê lam lũ. Nơi ấy không chỉ có những cảnh sắc thanh bình, thơ mộng, êm đềm mà còn có cả những mảng đời lam lũ, tăm tối. 2. Tâm trạng của chị em Liên trước bức tranh chân thực về đời sống phố huyện nghèo lúc chiều tối - “Hai đứa trẻ” ngoài việc mở ra bức tranh thiên nhiên, còn đi sâu vào tái hiện bức tranh chân thực về đời sống phố huyện nghèo và chỉ qua bức tranh đó, ngòi bút nhân đạo, cái nhìn tinh tế, nhạy cảm của Thạch Lam mới có dịp phát huy đầy đủ nhất. - Cuộc sống con người phố huyện trong thế giới “chìm chìm, nhạt nhạt” và vắng lặng của buổi chiều tối được dựng lên bằng những nét kí hoạ rất đỗi chân thực và được nhà văn gửi gắm qua cái nhìn ngây thơ của chị em Liên. Trong con mắt của hai đứa trẻ, từ cảnh vật cho đến cảnh sinh hoạt nơi phố huyện, đâu đâu cũng gợi lên sự tàn tạ, quẩn quanh, bế tắc. a. Mở đầu là khung cảnh ngày tàn - Sự tàn tạ được cảm nhận bắt đầu bằng một hình ảnh: một buổi chiều tà, khoảng thời gian vốn dễ khơi dậy nhiều nỗi niềm trong tâm hồn con người. + Buổi chiều quê lặng lẽ khép lại bằng “tiếng trống thu không” báo hiệu ngày tàn. + Những ánh sáng yếu ớt của thiên nhiên rồi cũng tắt dần. - Thời điểm hoàng hôn đã trở thành khoảng thời gian đặc biệt gắn bó với văn chương. Khoảnh khắc giao thoa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự sống náo nhiệt và sự yên lặng lụi tàn luôn gây cho lòng người nỗi buồn thấm thía. Xuân Diệu, thi sĩ của những vần thơ xôn xao, rạo rực xuân tình, đắm say cảnh sắc cũng đã hơn một lần cảm thấy “Không gì buồn bằng những buổi chiều Mà ánh sáng hoà cùng bóng tối” “Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ”. b. Cảnh chợ cũng tàn - Cái buồn của hình ảnh chiều tàn ở đây dường như được cộng hưởng, được nhân lên với hình ảnh của một buổi chợ tàn: + “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi: vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía ”. + Không khí náo nhiệt, nhộn nhịp người mua kẻ bán đã lắng xuống, chỉ còn lại sự trống vắng quạnh hiu. Có gì vui hơn là cảnh chợ đông, có gì buồn hơn là cảnh chợ tàn: Khung cảnh “Chợ tết” trong thơ Đoàn Văn Cừ náo nhiệt là thế mà cũng không cứu vãn được cảnh tàn tạ, hiu hắt, khi “Những người quê lũ lượt trở ra về": "Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ” - Giữa khung cảnh chợ tàn ấy, tâm hồn nhạy cảm của Liên đã nhận ra thứ mùi vị rất riêng của xứ sở. “Cái mùi cát bụi quen thuộc quá” mà Liên tưởng “là mùi riêng của đất, của quê hương này” chính là mùi vị quen thuộc của nghèo khổ, lầm than, bế tắc.
- Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm của Thạch Lam không phải là sự cày xới ngổn ngang những mảnh đời đau thương, bi đát, quằn quại như cuộc đời nhân vật của Nam Cao, Ngô Tất Tố Hiện thực trong tác phẩm của Thạch Lam được thể hiện qua những chi tiết bình thường, giản dị như trên nhưng lại có sức ám ảnh đặc biệt cho tâm hồn người đọc. c. Bức tranh về kiếp người tàn Đi liền với hình ảnh chiều tàn, chợ tàn là hình ảnh những kiếp người tàn như là linh hồn, là đỉnh cao cảnh quan bức tranh chân thực về đời sống ở phố huyện nghèo. Trong khung cảnh chiều tàn, phố huyện tiêu điều sau phiên chợ vãn người, cuộc sống sinh hoạt vất vả, đơn điệu của những người dân nghèo khổ lam lũ hiện lên đáng thương biết bao. - Đó là mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi “chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể dùng được của người bán hàng để lại”. Hình ảnh những đứa trẻ con ngây thơ cúi đầu tìm kiếm những vật dụng nhỏ nhoi vô nghĩa lý đem lại cho người đọc cảm nhận: dường như gánh nặng cuộc đời cũng đang đè nặng lên đôi vai chúng. Cái vô tư, hồn nhiên, tinh nghịch vốn có ở những đứa trẻ đã sớm mất đi bởi đời sống khốn khổ, tàn tạ nơi phố huyện. - Đó là chị Tý: “Ban ngày chị đi mò cua bắt tép, tối đến chị mới dọn cái hàng nước”. Cái cửa hàng của chị cũng nghèo nàn như cuộc đời của chị. Nó chỉ là một cái chõng tre, một ít đồ đạc điếu đóm, tất thảy vừa đủ một chuyến đội đầu, xách tay của chị và thằng cu bé “chả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm”. - Cùng với số phận của chị Tý là số phận của bác phở Siêu với gánh hàng phở leo lét ánh lửa. Đó là thứ hàng dù ngon nhưng “là một thứ quà xa xỉ” với người dân phố huyện cho nên “bóng bác mênh mang ngả xuống một vùng và kéo dài đến tận hàng rào”. Sự kéo dài của cái bóng dường như cũng là sự kéo dài của nỗi buồn, sự bế tắc tàn tạ trong cuộc đời bác. - Gia đình bác xẩm: “Ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt thằng con bò ra đất, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường”, thỉnh thoảng “mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng” càng gợi lên cảm giác đơn điệu hiu hắt. - Hai chị em Liên: + Với “cái cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc”. + Hôm nay là phiên chợ “mà bán hàng cũng chẳng ăn thua gì”. + Quảng đời ấu thơ ở chốn đô thị náo nhiệt, đầy ánh sáng chỉ là bóng mờ ký ức trong Liên. Cô trở thành người con gái đảm đang và dường như phải sớm lo toan, già đi trước tuổi. - Hình ảnh bà cụ Thi nghiện rượu, hơi điên với dáng đi “lảo đảo” lẫn vào bóng tối và “tiếng cười khanh khách”.
- Đó có lẽ là tiếng cười duy nhất của các nhân vật trong tuyện. Nhưng tiếng cười ấy không mang lại cho mọi người cảm giác vui lây. Trái lại, nó gây cho Liên sự sợ hãi. Bởi trong tiếng cười ấy dồn nén, chất chứa bao nỗi đắng cay, tủi nhục, bế tắc. Vì vậy, bà cụ Thi là hiện thân của kiếp người tàn. => Đi vào những số phận nhỏ bé, những cuộc đời thường của người dân trên phố huyện, Thạch Lam đã nhóm lên ở đó chất thơ của đời thường, chất thơ của lòng trắc ẩn, của sự đồng cảm, chia sẻ nhân đạo. 3. Tâm trạng của chị em Liên trước bức tranh đêm tối mênh mông của đất trời phố huyện a. Bóng tối làm chủ tất cả - Khi ánh chiều đã tắt thì bóng tối ập xuống. Tâm trạng của chị em Liên lại xoay quanh cái quầng sáng thu nhỏ xung quanh ngọn đèn con trên chõng hàng nước ế ẩm của chị Tý. - Cả phố huyện giờ chỉ thu nhỏ vào cái ngọn đèn con leo lắt ấy, còn xung quanh, bóng tối làm chủ tất cả “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”, bên cạnh có gánh phở bác Siêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên - Tất cả mấy đốm sáng, hột sáng thưa thớt tù mù. Những hột sáng nhỏ nhoi ấy chẳng thể làm cho đêm sáng ra, mà trái lại càng khiến cho đêm tối thêm mịt mùng dày đặc. b. Một nhịp sống quẩn quanh, đơn điệu, bế tắc - Trong bóng tối ấy là những cuộc đời bóng tối quẩn quanh, bế tắc. - Hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần là một hình ảnh có sức gợi tả đặc biệt. Hình ảnh ấy có ý nghĩa như một biểu tượng về kiếp người nhỏ bé, vô danh, vô nghĩa, sống leo lắt trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ không có hạnh phúc, không có tương lai. Hình ảnh ấy cũng gợi về nhịp sống lặp đi lặp lại một cách uể oải, đơn điệu, buồn chán, bế tắc ngày này sang ngày khác không có gì thay đổi. Đúng như Tố Hữu đã viết: “Giữa dòng ngày tháng âm u đó Không đổi nhưng mà trôi cứ trôi” - Những người dân nghèo khổ trong cảnh ấy vẫn mơ hồ bâng quơ “mong đợi cái gì đó tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”. “Một cái gì đó” là cái gì vậy? Rất mông lung, mơ hồ, điều đó càng nói lên tình cảnh tội nghiệp của những người sống mà không biết cuộc sống của mình ra sao 4. Đó là nguyên nhân nảy sinh tâm trạng của Liên, đặc biệt là tâm trạng chờ đợi tàu Chính số phận quẩn quanh, bế tắc của những kiếp người tàn, bức tranh của ngày tàn đã như thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của Liên, gây cho Liên một nỗi buồn man mác. a. Liên hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ tươi sáng trước đây ở Hà Nội - Liên và An ngửi thấy mùi phở thơm và nhớ lại khi ở Hà Nội “chị được hưởng những thứ quà ngon lạ như thế được đi chơi Bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”. - Liên bâng khuâng nhớ về “Hà Nội nhiều đèn quá, tạo nên một vùng sáng rực và lấp lánh”. Nhưng giờ đây, ánh sáng ấy chỉ là bóng mờ kí ức trong đêm.
- b. Liên chờ đợi tàu - hướng về tương lai , khao khát sự đổi thay - Và trong bối cảnh của bức tranh phố huyện tối tăm, tù túng, vốn là người có trái tim rất nhạy cảm nên Liên đã để lại cho tâm hồn mình vượt ra khỏi hiện thực ngột ngạt, vươn tới một giấc mơ, một khát vọng khác với cảnh sống nghèo nàn, tăm tối, bế tắc hiện tại. - Liên ngồi chờ đợi đoàn tàu, không phải để đi bán hàng, không phải vì nhu cầu vật chất, bởi không mong gì ai mua nữa mà vì một lí do khác “muốn được nhìn chuyến tàu, đó là hoạt động cuối cùng trong đêm”. - Nghĩa là Liên khát khao khắc khoải, háo hức chờ mong một sự đổi thay, khao khát một cái gì khác thường khuấy động cái không khí đơn điệu, buồn tẻ, quẩn quanh, tù túng, lụi tắt dần trong đêm tối. - Thực chất đó là nhu cầu khát vọng về tinh thần, nhu cầu được sống dù trong khoảnh khắc bằng một thế giới khác “với tiếng còi rít lên, tàu chạy rầm rộ với những toa tàu sang trọng đèn điện sáng trưng. Trong đó có những con người gợi về Hà Nội huyên náo và vui vẻ”. - Con tàu như đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn chị Tý và ánh lửa bác Siêu leo lắt giữa cái đêm tối mênh mông của đất trời phố huyện. Liên hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn chuyến tàu đó. c. Niềm vui sướng duy nhất chờ đợi trong một ngày đã đi qua nhanh chóng, phố huyện lại chìm đi trong đêm tối - Liên càng cảm thấy buồn hơn khi trở về với hiện tại. - Trong giấc mơ chập chờn, cô bé phố huyện như cảm thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết, như chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Thế là khát vọng đã trở thành thất vọng. Liên bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc. 5. Tác phẩm giàu tính nhân đạo a. Qua tâm trạng của chị em Liên, Thạch Lam muốn bộc lộ những ý nghĩ kín đáo, nhẹ nhàng nhưng thấm thía biết bao cho tâm hồn người đọc. Đó là tác giả muốn bày tỏ nỗi niềm xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé vô danh, không bao giờ biết đến ánh sáng, hạnh phúc. - Trong xã hội cũ, có biết bao con người như thế. Họ phải sống cuộc đời tẻ nhạt vô nghĩa, đến trong mơ cũng không biết mơ gì hơn một chuyến tàu đêm vụt qua phố huyện tiêu điều, lụi tắt của cuộc đời mình. - Cuộc sống của họ cũng sẽ “mốc lên, rỉ đi, mòn ra, mục ra” trong tăm tối đói ngèo, buồn chán nơi phố huyện và nói rộng ra là trên đất nước lầm than nô lệ. b. Qua đó Thạch Lam đồng thời cũng muốn đánh thức, lay tỉnh những tâm hồn đang uể oải, lụi tàn. - Thạch Lam đã khơi dậy ở họ ngọn lửa của lòng khát khao được sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát được thoát ra khỏi cuộc sống tăm tối, tù đọng, mòn mỏi đang muốn chôn vùi họ. Phải có sự thức tỉnh của “cái tôi” cá nhân mới có được niềm xót thương và sự lay tỉnh đáng quý ấy. - Ở truyện này, Thạch Lam đã đặt tất cả trong một cái nhìn già dặn trước tuổi trong đôi mắt trẻ thơ.
- Điều ấy dường như từ tác phẩm đã vút lên tiếng kêu hãy cứu lấy những đứa trẻ; trả lại cho chúng sự hồn nhiên, vô tư vốn có, đừng biến chúng trở thành những kiếp người tàn. III. Kết bài - Nhà văn Nguyễn Tuân đã có một lời nhận xét rất độc đáo “Hai đứa trẻ” có một hương vị thật man mác. Nó gợi một nỗi niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng dóng lên một cái gì còn ở trong tương lai... - Nơi cái thế giới của đôi trẻ ở một phố quê, hình ảnh đoàn tàu và cái tiếng còi tàu đã trở thành thói quen của cảm xúc và ước vọng. - “Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô hạn, về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín”. Nói theo lời Nguyễn Tuân, ta có thể thêm: đọc tác phẩm Thạch Lam, thấy bận bịu vô hạn về một ước mơ, một khát vọng tràn đầy tinh thần nhân văn, nhân bản. ĐỀ 3: “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn đượm buồn. Anh/chị hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ để làm sáng tỏ ý kiến trên. Gợi ý: 1. Vài nét về tác giả và tác phẩm – Thạch Lam là thành viên của Tự lực văn đoàn; có tấm lòng đôn hậu và quan niệm văn chương tiến bộ; có biệt tài về truyện ngắn; chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ. – Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, có sự hoà quyện các yếu tố hiện thực và lãng mạn, tự sự và trữ tình. 2. Giải thích ý kiến – Truyện ngắn trữ tình thường có cốt truyện đơn giản, giàu sắc thái trữ tình, không khí, tâm trạng. – Làm nên sắc thái trữ tình trong Hai đứa trẻ chủ yếu là cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết tha qua miêu tả khung cảnh, tâm trạng. 3. Phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên a. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ khung cảnh phố huyện – Khung cảnh phố huyện khi chiều xuống, đêm về, lúc có chuyến tàu đi qua đều được lọc qua cái nhìn và tâm trạng, cảm giác của nhân vật Liên, nên cũng thấm đượm cảm xúc trữ tình. + Cảnh vật hiện lên có hồn, êm ả, thi vị mà đượm buồn. + Con người hiện lên với kiếp sống mòn mỏi, tăm tối; tuy vậy tâm hồn họ vẫn ánh lên vẻ đẹp đáng trân trọng: một tình người chân thật, một mơ ước nhỏ nhoi, hay một hi vọng mong manh, – Khung cảnh phố huyện có sự tương phản đậm nét giữa bóng tối và ánh sáng: Bóng tối dày đặc, bao trùm lên tất cả; còn ánh sáng thì leo lét lụi tàn, hoặc rực rỡ vụt qua. Khung cảnh ấy gắn liền với những cảm giác xen lẫn buồn vui khó tả, tạo nên nhiều sắc thái trữ tình. b. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên – Tâm trạng man mác buồn trước khung cảnh phố huyện lúc chiều tàn và trong đêm tối: + Cảm giác man mác buồn từ cảnh vật thấm vào lòng người và nỗi buồn trong tâm hồn
- ngây thơ lan toả ra cảnh vật. + Niềm xót xa, thương cảm với những kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối. – Cảm xúc buồn vui khó tả trước, trong và sau khi chuyến tàu đêm đi qua: + Tàu chưa đến: khắc khoải, háo hức chờ mong. + Tàu đến: hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn. + Tàu đi: bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc. 4. Đánh giá chung – Chất trữ tình đượm buồn mang lại cho Hai đứa trẻ một vẻ đẹp riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam. – Ý kiến này đã đưa ra được một đánh giá sâu sắc, thoả đáng. ĐỀ 4:Tâm trạng đợi tàu của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Gợi ý: Mở bài: - Giới thiệu đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Thạch Lam: sáng tạo ra lối truyện không có cốt truyện hoặc cốt truyện đơn giản - truyện tâm tình. - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận : Tâm trạng đợi tầu của nhân vật Liên trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" Thân bài: a. Hoàn cảnh nảy sinh tâm trạng đợi tầu: - Vì cuộc sống ở phố huyện quá buồn tẻ, nghèo khổ, tăm tối. + Khung cảnh thiên nhiên: êm ả nhưng tàn lụi. + con người: nghèo khổ, nhịp sống mỏi mòn. - Chị em Liên từng sống ở một nơi sung túc và tươi sáng hơn, kí ức về quãng thời gian đó tuy nhạt nhòa, mơ hồ nhưng vẫn còn đọng lại trong tâm hồn Liên. Hơn nữa Liên lại là cô bé rất nhạy cảm nên cô cảm thấy buồn thương, ngao ngán. - Tâm trạng buồn dẫn đến khát vọng muốn thoát khỏi cuộc sống hiện tại, phải tìm đến một cái gì đó để ước mơ -> Thức đợi để ngắm nhìn đoàn tầu chạy qua phố huyện. -> Đoàn tầu là một nhu cầu bức thiết về tinh thần của chị em Liên. Trong cả một ngày dài, đây chính là giây phút bừng sáng và hạnh phúc của hai đứa trẻ. b. Diễn biến tâm trạng đợi tầu : - Khi tầu chưa đến: Hồi hộp, mong ngóng.Thể hiện qua các chi tiết : + Tuy buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn gắng thức để đợi tầu. + Dọn hàng xong, hai đứa ngồi trên chiếc chõng tre trước gian hàng để ngắm cảnh phố huyện và chờ đợi. + Trong lúc đợi tầu tâm hồn Liên có những cảm giác mơ hồ không hiểu, đó chính là sự xốn xang, hồi hộp của con người khi đang mong đợi một cái gì đó hệ trọng. - Khi tầu đến: Phấn chấn, tâm hồn như bị cuốn hút ngay vào đoàn tầu. Biểu hiện: + tiếng gọi em vội vàng, giục giã, + hành động dắt tay em đứng dậy, nghển cổ nhìn vào trong các toa tầu, + quan sát kĩ lưỡng, tỉ mỉ mọi chi tiết của đoàn tầu từ dấu hiệu đầu tiên đến dấu hiệu cuối cùng.
- - Khi tầu đi qua: + Luyến tiếc (Liên nhìn theo mãi, lắng nghe mãi, lặng theo mơ tưởng). + Vừa vui vừa buồn. Vui vì như được sống trong một thế giới khác đày ắp ánh sáng và náo nhiệt trong giây lát, vì sống lại kí ức tuổi thơ tươi đẹp. Buồn vì càng nhận thức rõ hơn cuộc sống tăm tối nghèo khổ của phố huyện và sự sống mời nhạt, vô nghĩa của chính mình "như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất cát" -> Trạng thái tâm lí phức tạp này đã thể hiện được sự thức tỉnh của ý thức cá nhân. c. Hình ảnh đoàn tầu: - Miêu tả tỉ mỉ theo trình tự thời gian, tập trung vào hai chi tiết âm thanh huyên náo, ánh sáng rực rỡ. - Tương phản với khung cảnh phố huyện -> Ý nghĩa: thế giới hoài niệm của tuổi thơ và còn là biểu tượng cho một thé giới khác đẹp đẽ hơn phố huyện. d. Ý nghĩa của tâm trạng đợi tầu: ước mơ đổi đời, thoát khỏi cuộc sống buồn tẻ, tối tăm thực tại. Kết bài: - Đánh giá: +Tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của Thạch Lam + Tư tưởng nhân đạo của tác giả: Thương xót cho những kiếp người nghèo khổ đến ước mơ cũng nhỏ nhoi,tội nghiệp; Trân trọng ước mơ, khao khát đổi đời của họ. ĐỀ 5:Chất hiện thực và lãng mạn trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam. I. Mở bài - Giới thiệu tác giả Thạch Lam. - Giới thiệu tác phẩm Hai đứa trẻ. - Vấn đề cần nghị luận: chất hiện thực và lãng mạn II. Thân bài 1. Chất hiện thực - Chất hiện thực thể hiện rõ ở bức tranh phố huyện nghèo nàn với những cảnh đời mòn mỏi, quẩn quanhm bế tắc. +. Bức tranh mở ra bằng một cảnh chiều tàn với những âm thanh quen thuộc của đồng quê: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve cùng với những hình ảnh chân thực khi hoàng hôn tắt: phương tây đỏ rực như lửa cháy, những đám mây, dãy tre làng. Tất cả như tự nó bước vào trang văn của Thạch Lam. +. Cảnh một phiên chợ vãn ở một miền quê được miêu tả chân thực đến từng chi tiết: Ống kính của nhà văn đã nhìn lại trên mặt đất để thấy: rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn đó là những thứ còn sót lại của một phiên chợ quê. Phát hiện ra cái mùi đặc biệt của quê hương: “cái mùi riêng của đất của quê hương này”, được tạo nên từ cái “mùi âm ẩm quen thuộc” Thạch Lam đã sử dụng những chất liệu đời thường làm nên trang văn đậm đà hương sắc đồng quê.
- +. Cảnh sống nơi phố huyện: Không ồn ào, không to tát, chỉ bằng những mảnh đời nhỏ bé như những lát cắt của cuộc sống TL đã tái hiện chân thực cảnh sống quẩn quanh, nhàm tẻ nơi phố huyện nghèo. Đó là gia đình chị Tí: Ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng. Dẫu chẳng kiếm được là bao nhưng ngày nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm. Cả gia tài của chị chỉ là một chõng hàng. Đây chính là một điển hình cho cuộc sốnglay lắt, ngoi ngóp nơi phố huyện. Đó chỉ là sự cầm chừng, sự tồn tại trong vô vọng không phải là sự sống thực sự. Bà cụ Thi điên: chỉ đủ tiền mua một cút rượu uống một hơi cạn sạch. Đó là một hình ảnh đầy sức ám ảnh với dáng đi lảo đảo và tiếng cười khanh khách tan vào trong bóng đêm. Phải chăng đó chính là sản phẩm của một cuộc sống mòn mỏi, quẩn quanh. Người điên, người thì còn đó nhưng đời đã tàn quá nửa. Bác Siêu- với gánh phở của mình hi vọng sẽ kiếm được chút gì để tồn tại, để cầm cự với sư sống. Nhưng ở nơi phố huyện nghèo này, Phở trở thành một thứ quà xa xỉ, vì vậy nguy cơ ế hàng càng cao. Gia đình bác Xẩm: dùng lời ca tiếng hát của mình để kiếm sống. Nhưng ở nơi cái ăn còn chẳng có thì người dân nghèo làm gì có thời gian để thưởng thức âm nhạc. Vì vậy, cái nghèo, cái đói luôn rình rập gia đình bác. Hai đứa trẻ: chính là những mảnh đời đáng thương nhất.Chúng còn nhỏ nhưng đã phải thay mẹ quán xuyến cửa hàng. Hơn nữa chúng từng có một tuổi thơ tươi đẹp gắn với Hà Nội rực rỡ ánh sáng. Chúng là những đứa trẻ có tâm hồn đặc biệt nhạy cảm nên chúng sớm nhận ra nhịp điệu buồn tẻ của cuộc sống nơi phố huyện. Chừng ấy mảnh đời, kiếp người đã làm sống dậy hiện thực xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc. Một xã hội sa sút tiêu điều, trì trệ, một xã hội đang “nổi váng lên”. Đó là xã hội của những hình nhân biết cử động trong thiên truyện ý tưởng của Xuân Diệu “Toả nhị Kiều”. Họ thực sự là những con người sống một cuộc đời “đời tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến”. Những kiếp người quẩn quanh đó đã đi vào trong thơ văn của Huy Cận: Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện. Không đi vào xung đột gay gắt, những số phận thê thảm như những nhà văn hiện thực, TL đã lặng lẽ góp nhặt những mảnh đời thường nhật, những nhịp sống quen nhàm bình lặng, những đốm sáng lẩn khuất leo lét trong bóng tối tịch mịch để làm nên bức tranh hiện thực khó quên. Bức tranh hiện thực có sức ảm ảnh có lẽ bởi TL đã vẽ bằng bút phá lãng mạn. Cái lãng mạn của TL không phải là sự tô hồng đời sống của người dân phố huyện theo kiểu tiểu thuyết lãng mạn của TLVĐ. Lãng mạn của TL là vẻ đẹp tiềm tàng ngay trong đời sống giản dị quanh ta. Chất hiện thực và lãng mạn hoà quyện đan xen trong mỗi trang văn của TL. 2. Chất lãng mạn - Vẻ đẹp nên thơ đáng yêu của phố huyện. Phố huyện tuy nghèo nhưng vẫn đáng yêu.
- +. Buổi chiều ở phố huyện là buổi chiều hiu hắt, man mác buồn nhưng cũng không kém phần thi vị với bản hoà âm thôn dã tạo nên từ âm thanh quen thuộc của tiếng trống, tiếng ếch, tiếng muỗi những hình ảnh, màu sắc đậm chất hội hoạ phương Đông: hình ảnh phương Tây đỏ rực, áng mây hồng, dãy tre làng đen lại. Những gam màu tương phản gay gắt. Bức tranh thiên nhiên được miêu tả bằng những cau văn nhẹ nhàng với nhịp điệu du dương như ru hồn người vào một không gian buồn. Đó thực sự là một bức hoạ đồng quê. +. Một đêm mùa hạ êm như nhung ru hồn người, ru hồn hai đứa trẻ vào một thế giới thơ mộng. Phố huyện dưới ngòi bút của Thạch Lam buồn nhưng không thê thảm, lặng lẽ nhưng vẫn ẩn một nét đẹp dân dã mang cái hồn của quê hương Việt Nam. TL đã chắt chiu những cái đẹp tiềm tàng ngay ở cuộc sống giản dị quanh mình. - Vẻ đẹp tâm hồn hai đứa trẻ tạo nên một nguồn ánh sáng êm dịu trong trẻo trong suốt thiên truyện đầy bóng tối này. Đó là tâm hồn nhạy cảm tinh tế, giàu khát vọng, đon hậu. +. Tâm trạng của Liên khi phố huyện lúc chiều tàn. Buồn man mác trước giờ phút của ngày tàn. Liên đã cảm nhận được cái mùi riêng của đất, của quê hương- một thứ mùi đặc biệt khi nhìn rác rưởi những thứ còn xót lại trên mặt đất sau một ngày phiên. Tâm hồn đó đặc biệt nhạy cảm, gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, cảnh vật, phát hiện ra những biến thái tinh vi của thiên nhiên; tâm hồn như đang hoà cùng thiên nhiên “qua kẽ lá của cành bàng” Chị em Liên thấy thương cho những kiếp người nghèo nơi phố huyện, những con người đang chìm dần vào bóng tối. Một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu tình yêu con người, yêu thiên nhiên, đất nước. +. Sống trong phố huyện ngèo, chị em Liên luôn muốn thoát khỏi cuộc sống nghèo túng hiện tại bằng khát vọn tìm kiếm ánh sáng nhỏ nhoi và hai chị em không ngừng mưo ước, hồi tưởng quá khứ tươi đẹp – Nó như một điểm tựa để chị em Liên có thể vươn lên cuộc sống buồn tẻ này. +. Chính vì muốn thoát khỏi cuộc sống mòn mỏi, tù túng nên ngày nào chị em Liên cũng cố thức đợi tàu trong một tâm trạng háo hức và hồi hộp. Chị em Liên muốn sống nhịp sống sôi động cuối cùng của phố huyện. Bởi đoàn tàu đem đến một cuộc sống khác hẳn với phố huyện nghèo - một thế giới rực rỡ, vui vẻ và huyên náo. Đoàn tàu đã chở theo một mơ ước về cuộc sống hạnh phúc, sung sướng hơn. Đoàn tàu là tia hồi quang của quá khứ. Dù sống trong nghèo khổ nhưng con người không thôi mơ ước. Chính niềm mơ ước mong manh đã khiến cho người dân phố huyện sống qua những ngày tối tăm. - Chất lãng mạn còn toát lên từ những câu văn nhẹ nhàng như giăng mắc vào lòng người nỗi thương cảm ngậm ngùi xót xa cho những kiếp sống khắc khoải. Văn TL vừa có chất nhạc vừa có chất hoạ đậm chất phương Đông. Chất nhạc êm ái trầm buồn lắng sâu. III. Kết bài - Khẳng định lại giá trị của tác phẩm. - Thành công của tác phẩm: hài hoà giữa chất hiện thực và lãng mạn.
- ĐỀ 6: Phân tích diêñ biến tâm trang̣ của hai đứa trẻ trong truyêṇ ngắ n Hai đứ a trẻ của Thacḥ Lam. Từ đó nêu những đóng góp mớ i mẻ của Thacḥ Lam trong viêc̣ thể hiêṇ cả m hứ ng nhân đaọ đôc̣ đá o. Nhâṇ xét về môṭ số nét đăc̣ sắ c của truyêṇ ngắ n này. Gợi ý: I. Đăṭ vấ n đề - “Xú c cảm của Thacḥ Lam thườ ng bắ t nguồ n và nảy nở từ những chân cảm đố i vớ i những con ngườ i ở tầ ng lớ p dân nghèo thành thị và thôn quê. Thacḥ Lam là nhà văn quí mế n cuôc̣ số ng, trang trong̣ trướ c cuôc̣ số ng củ a moị ngườ i xung quanh”. Chính tình cảm quí mế n và trang trong̣ ấ y giú p Thacḥ Lam cảm nhâṇ sâu sắ c những cảm xúc tinh tế của Hai đứ a trẻ trong truyêṇ ngắ n cùng tên. Qua đó, tác giả thể hiêṇ cảm hứ ng nhân đaọ mớ i mẻ, đăc̣ sắ c. II. Giải quyết vấ n đề Khá i quá t: Tác phẩm Hai đứ a trẻ in trong tâp̣ Nắ ng trong vườ n, xuấ t bản năm 1938. Truyêṇ nhưng không có chuyên,̣ chỉ là câu chuyêṇ tâm tình. Câu chuyêṇ không phát triển theo logic sư ̣ kiêṇ mà giố ng như môṭ bài thơ trữ tình đầ y xót thương, gói goṇ trong không gian nhỏ hep̣ nơi phố huyêṇ nghèo hẻo lánh vớ i những con ngườ i nhỏ bé, những cảnh đờ i đơn điêụ hắ t hiu. Toàn truyêṇ là những cảm xú c và tâm trang̣ của những đứ a trẻ nơi phố huyêṇ đó trong khoảng thờ i gian từ chiề u đế n đêm. Ngòi bút của Thacḥ Lam tỏ ra thâṭ tinh tế trong viêc̣ diễn tả những rug đông̣ của hai đứ a trẻ. 1. Diễn biế n tâm trạng a). Trướ c hế t là tâm trạng của hai đứ a trẻ trướ c cảnh chiề u tà n - Câu chuyêṇ mở ra trong môṭ khung cảnh chiề u buồ n man mác. - Liên và An là những đứ a trẻ từ ng số ng ở HN, nay theo me ̣về vùng quê hẻo lánh. Liên ngồ i trong không gian bóng tố i để những nỗi buồ n chiề u quê thấ m thía vào tâm hồ n ngây thơ. +. Liên cảm nhâṇ đươc̣ cái yên lăng̣ của khung cảnh chiề u quê quen thuôc.̣ Đó là tiế ng trố ng thu không, phương Tây đỏ rưc̣ như lử a cháy, những áng mây ánh hồ ng như hòn than sắ p tàn gơị lên cái nhịp thờ i gian đang trôi, gieo vào lòng ngườ i môṭ sư ̣ nuố i tiế c mơ hồ , có cái gì đó quá khó nắ m bắ t. +. Cù ng vớ i cảm giác về thờ i gian còn là âm thanh tiế ng ế ch nhái văng vẳng ngoài đồ ng ruông,̣ tiế ng muỗi vo ve, mùi âm ẩm và mù i cát buị quen thuôc̣ Đó là những xúc cảm rấ t quen thuôc,̣ thể hiêṇ sư ̣ gắ n bó vớ i quê hương. - Cảnh chơ ̣ tàn ngườ i về hế t và tiế ng ồ n à o cũng mấ t càng khiế n lòng Liên thấ m đẫm nỗi buồ n về môṭ cuôc̣ số ng xác xơ, tiêu điề u, đang đi vào chiề u tàn lui.̣ b). Trong bóng tố i - Từ quán hàng châṭ hep̣ nhỏ bé của mình, Liên hướ ng tầ m nhìn ra khung cảnh xung quanh và càng thêm xót thương cho những kiế p ngườ i nhỏ bé, mong manh: +. Thương xót cho những đứ a trẻ nghèo phải nhăṭ nhanḥ tấ t cả những thứ còn xót laị của môṭ phiên chơ ̣ tàn. +. Liên chia sẻ vớ i me ̣con chị Tí bằ ng sư ̣ thấ u hiểu cuôc̣ số ng tẻ nhat,̣ quanh quẩn của me ̣con chị.
- +. Liên còn chia sẻ vớ i sư ̣ ế ẩm của gánh phở bác Siêu, gánh đi gánh về gơị lên môṭ nhịp số ng buồ n tẻ. +. Thương xót, thâṃ chí còn sơ ̣ hãi trướ c tiế ng cườ i khanh khách của bà cu ̣Thi điên. Đó là cảm nhâṇ về sư ̣ mỏng mang của kiế p ngườ i. +. Liên còn cảm nhâṇ đươc̣ cái tù túng trong cuôc̣ số ng của chính bản thân mình: giam hãm trong gian hàng nhỏ, lắ m muỗi, chiế c chõng tre sắ p gãy, tính nhẩm, “ngày phiên mà bán cũng chẳng ăn thua gì”. - Tâm hồ n nhỏ bé và nhaỵ cảm của Liên cũng buồ n và nuố i tiế c môṭ quá khứ xa xăm- những ngày số ng ở HN- môṭ HN sáng rưc̣ và huyên náo vớ i những cố c nướ c xanh đỏ. Đó là môṭ quá vãng xa xôi mà giờ đây trong tâm trí Liên tấ t cả hiêṇ lên đề u không rõ ràng. - Liên có cái nhìn huyề n diêụ về vũ tru ̣bao la thăm thẳ m và bí ẩn. Đó là môṭ vò m trờ i ngàn sao lấ p lánh, dải Ngân Hà, ông thầ n Nông cùng con vịt. Thế nhưng vũ tru ̣ laị quá xa la ̣vớ i tâm hồ n trẻ thơ, nó làm “mỏi trí nghi”̃ của hai chị em. Nên chỉ môṭ lúc sau, hai chị em “lại cú i nhìn về mặt đấ t”. - Cảnh đồ ng quê về đêm thâṭ yên tinh,̃ lăng̣ le.̃ Tấ t cả sư ̣ dày đăc̣ củ a bóng tố i đang vây quanh “ đườ ng phố và cá c con ngõ chứ a đầ y bóng tố i” trong khi đó các cử a nhỏ chỉ để hé ra “một khe á nh sá ng”, những vệt sá ng của đom đóm, các “quầ ng sá ng thân mâṭ xung quanh ngoṇ đèn”. Sư ̣ đố i lâp̣ gay gắ t giữa bóng tố i và ánh sáng tô đâṃ sư ̣ buồ n tẻ, lay lắ t của phố huyêṇ – môṭ cuôc̣ sóng mù sáng. Điề u đó càng khiế n tâm hồ n Liên thấ m thía nỗi buồ n. c). Trong tâm trạng buồ n Liên hoà i niệm về quá khứ và khao khá t, hi vọng đợi chờ : đó là hi vọng chờ đợi một chuyế n tà u đêm đi qua. Diễn biế n tâm trạng chờ tà u của hai chị em Liên được Thạch Lam miêu tả khá tinh tế . - Liên chờ tàu không phải để bán hàng mà là nhu cầ u tinh thầ n hàng đêm. Bở i vây,̣ An măc̣ dù đã buồ n ngủ díu cả mắ t vẫn cố dăṇ chị “tà u đế n chị đá nh thứ c em dậy nhé”. - Đoàn tàu đế n trong sư ̣ mong chờ của chị em Liên. Liên và An hướ ng cả hồ n mình vào đoàn tàu khi còn ở xa “tiế ng còi đã rít lên và tà u rầ m rộ đi tớ i vớ i những toa hạng sang, kèn và đồ ng lấ p lá nh, cá c cửa kính sá ng. Con tà u đã đem đế n một thế giớ i khá c đi qua, một thế giớ i rực rỡ, vui vẻ, huyên ná o- một thế giớ i khá c hẳn vớ i sự nghèo khôt hà ng ngà y. - Đoàn tàu chỉ xuấ t hiêṇ trong môṭ khoảnh khắ c rấ t ngắ n rồ i vuṭ qua đi vào đêm tố i. Ta bắ t găp̣ phía sau đoàn tàu môṭ nguồ n ánh sáng nhỏ nhoi chỉ trưc̣ tan hòa vào bóng tố i. An nhâṇ ra tàu hôm nay “kém sá ng hơn”, nhưng Liên vẫn “lặng theo mơ tưởng”. Đoàn tàu không làm thay đổi cuôc̣ số ng nơi phố huyêṇ nhưng sư ̣ xuấ t hiêṇ của nó đủ để laị niề m khao khát cho những con ngườ i nơi đây “chừ ng ấ y con ngườ i của họ”. 2. Những đóng góp mớ i mẻ của Thạch Lam trong việc thể hiện cảm hứ ng nhân đạo - Đoc̣ truyêṇ của Thacḥ Lam ta thấ y nhà văn không đi vào tố cáo sư ̣ đàn áp bấ t công của xã hôi,̣ cũng không khiế n ngườ i đoc̣ phải uấ t ứ c, căm giâṇ những cảnh bóc lôt,̣ hành ha ̣ của giai cấ p thố ng trị đương thờ i. Nhưng tác phẩm vẫn chấ t chứ a tư tưở ng nhân đaọ đăc̣ sắ c. Tư tưở ng nhân đaọ ấ y đươc̣ toát lên trướ c hế t ở niề m thương xót chân thành của nhà văn trướ c những cảnh đờ i đơn điêu,̣ hắ t hiu nơi phố huyêṇ nhỏ bé. Nhà văn xót xa bở i ho ̣ phải số ng môṭ cuôc̣ số ng vô nghiã trong “cá i ao đờ i bằ ng phẳng”, cuôc̣ “đờ i tẻ nhạt như
- tà u không đổi chuyế n”. Từ chị em Liên, me ̣con chị Tí đế n bà cu ̣Thi Điên, gia đình bác Sẩm, bác Siêu, ho ̣ đang tồ n taị chứ không phải đang số ng. +. Ho ̣tồ n taị trong môṭ nhịp số ng uể oải, tù túng , bế tắ c vớ i những công viêc̣ tẻ nhat,̣ buồ n chán, lăp̣ đi lăp̣ laị “ngà y nà o cũng vậy”, “chiề u nà o cũng thế ”, “đem ra rồ i lại dọn và o”, “gá nh đi rồ i lại gá nh về ” +. Đoc̣ thấ u đươc̣ nhịp điêụ ấ y, nhà văn thương ho,̣ thương cho tấ t cả những ai phải số ng môṭ cuôc̣ đờ i tẻ nhat,̣ bằ ng phẳng như Huy Câṇ nói: Quanh quẩn mãi giữa và i ba dá ng điệu Tớ i hay lui vẫn từ ng ấ y mặt ngườ i Vì quá quen nên quá đỗi buồ n cườ i Môi nhắ c lại chỉ có ngầ n ấ y chuyện. (Quanh quẩn) - Không chỉ dừ ng laị ở sư ̣ xót thương, vớ i hình ảnh đoàn tàu đi qua phố huyêṇ TL dườ ng như còn muố n gióng lên trong tâm trí con ngườ i môṭ hi vong̣ mong manh. Á nh sáng của con tàu hay chính là niề m khao khát đổi thay, khao khát cuôc̣ số ng có ý nghiã hơn, dẫu chỉ là trong mong ướ c “Chừ ng ấ y con ngườ i họ”. Đăṭ trong hoàn cảnh XHVN những năm 30- 45, những khao khát ấ y cũng chính là sư ̣ thứ c tinh ý thứ c cá nhân mớ i mẻ. Nói lên điề u này, tác phẩm của Thacḥ Lam đã góp phầ n làm phong phú hơn cho tư tưở ng nhân đaọ của văn hoc̣ giai đoaṇ này. 3. Một số nét đặc sắ c về nghệ thuật - Cách dưng̣ truyên:̣ +. Truyêṇ ngắ n Hai đứ a trẻ là môṭ truyêṇ không có truyên,̣ không có những biế n cố căng thẳng dồ n nén, những xung đôṭ gay gắ t, những tình tiế t căng thẳng, thờ i gian ngắ n, nhân vâṭ không nhiề u. +. Nhưng câu chuyêṇ vẫn hấ p dẫn ngườ i đoc̣ bở i chính macḥ tâm tình của nó. Cả truyêṇ đươc̣ phát triển theo những diễn biế n tâm trang̣ tinh tế , phứ c tap̣ củ a các nhân vât.̣ Từ đó khơi ngơị cho ngườ i đoc̣ những xúc cảm thân quen, những nỗi niề m về quá vãng Cách kể chuyêṇ tâm tình là môṭ sáng taọ riêng của Thacḥ Lam góp phầ n taọ nên sư ̣ đôc̣ đáo, hấ p dẫn .của tác phẩm. - Xây dưng̣ nhân vât:̣ Nhân vâṭ trong tác phẩm Hai đứ a trẻ không đươc̣ xây dưng̣ là những tính cách điển hình mà đươc̣ khám phá ở chiề u sâu tâm trang.̣ Nghê ̣thuâṭ phân tích tâm lí của ngòi bút Thacḥ Lam taọ nên sư ̣ thành công củ a thiên truyên.̣ +. Những đoaṇ văn miêu tả nỗi buồ n của Liên trong buổi chiề u tà. +. Xúc cảm mênh mông trướ c vũ tru ̣bao la. Là những đoạn văn rấ t già u chấ t thơ, thể hiện khả năng diễn tả tâm lí nhân vật của Thạch Lam, gợi lên những cảm xú c thân quen trong lò ng ngườ i. - Thủ pháp nghê ̣thuâṭ đôc̣ đáo; +. Đố i lâp̣ giữa ánh sáng và bóng tố i taọ nên những ám ảnh trong lòng ngườ i: bóng tố i bao trùm toàn tác phẩm. Nó xuấ t hiêṇ ngay đoaṇ văn mở đầ u, dầ n lan tỏa khắ p thiên truyên:̣ đườ ng phố bóng tố i, tố i hế t cả nữa, đêm tố i yên lặng.Thâṃ chí bóng tố i còn ngâp̣ dầ n đầ y trong mắ t Liên. +. Nhưng trong bóng tố i không phải không có ánh sáng: Á nh sáng xanh hắ t qua khe cử a những hiêụ khách.
- Á nh sáng từ những ngôi sao xa xanh. Á nh sáng từ ngoṇ đèn chị Tí chỉ là môṭ quầ ng sáng thân mât.̣ Sự xuấ t hiện của á nh sá ng- bóng tố i chính là sự sá ng tạo độc đá o là m bật sứ c số ng của tá c phẩm. +. Ngôn ngữ văn xuôi giàu chấ t thơ: “chiề u chiề u rồ i đưa và o” “Một đêm mù a hạ gió má t”. III. Kết thú c vấ n đề Hai đứ a trẻ là môṭ truyêṇ ngắ n hay của TL. Nó không hấ p dẫn ngườ i đoc̣ bằ ng những tính cách sắ c nét, tình huố ng li kì. Nó hấ p dẫn ngườ i đoc̣ bằ ng chính vẻ đep̣ của cuôc̣ số ng đờ i thườ ng đã đươc̣ khám phá, cảm nhâṇ bằ ng chính ngòi bút tinh tế và giong̣ văn nhe ̣nhàng của tác giả. Hai đứ a trẻ là môṭ bài thơ trữ tình đươṃ buồ n thể hiêṇ những giá trị nhân đaọ mớ i mẻ, đăc̣ sắ c của TL. Qua đó, chúng ta còn thấ y đươc̣ ngòi bút tài hoa củ a ngườ i nghê ̣si ̃ trang trong̣ trướ c sư ̣ số ng. ĐỀ 7:Phân tích vẻ đẹp tâm hồn cô bé Liên trong “Hai đứ a trẻ” của Thạch Lam. I. Đăṭ vấ n đề - Giớ i thiêụ tác giả TL. - HĐT là tác phẩm hay, tiêu biểu cho phong cách TL: sứ c hấ p dẫn của tá c phẩm là đã khơi dậy được “ những rung động cực điểm của một tâm hồ n thơ dại”. Đó là vẻ đẹp tâm hồ n của Liên và đó cũng là sứ c hấ p dẫn, chấ t thơ của tá c phẩm. II. Giải quyết vấ n đề 1. Giớ i thiệu truyện, nhân vật - Giớ i thiêụ truyên.̣ - Giớ i thiêụ nhân vât:̣ Khác vớ i những đứ a trẻ nơi phố huyên,̣ Liên và An đã từ ng số ng ở HN ồ n ào, náo nhiêṭ nay phải theo me ̣về vùng quê hẻo lánh. Tâm hồ n Liên khác vớ i những cô gái quê khác, luôn có những rung đông̣ hế t sứ c tinh tế . Cuôc̣ số ng của Liên và An quẩn quanh trong gian hàng đơn điêu,̣ nhưng cuôc̣ số ng quanh quẩn không làm mấ t đi vẻ đep̣ phong phú trong tâm hồ n Liên. 2. Phân tích a). Ngòi bú t của TL tinh tế trong diễn tả diễn biế n tinh vi trong tâm hồn con người - Tâm hồ n Liên thâṭ nhaỵ cảm tinh tế : +. Cảm nhâṇ đươc̣ cảnh buổi chiề u quê thâṭ thấ m thía. +. Cảnh chơ ̣ tàn. nỗi buồ n mong manh mơ hồ nhưng thấ m sâu và o đá y tâm hồ n con ngườ i. +. Mùi riêng của đấ t, của quê hương này. Tâm hồ n Liên đăc̣ biêṭ gắ n bó, yêu mế n chố n quê hương thân thuôc.̣ +. Bứ c tranh phố huyêṇ vào đêm . cảm giá c mênh mông, bí ẩn. Bầ u trờ i chứ a đựng trong đó cá i bí mật thăm thẳm, cá i huyề n diệu của tuổi thơ. b). Tâm hồn giàu tình thương- nhân á i
- - Măc̣ dù phải bán quán hàng tap̣ hóa nhỏ nhưng sư ̣ nghèo nàn, tù túng không làm chai saṇ tâm hồ n Liên. Tâm hồ n Liên vẫn rung lên niề m trắ c ẩn chân thành: +. Những đứ a trẻ nghèo: Liên rấ t thương chúng nhưng chính chị cũng không có tiề n cho. +. Chị Tí: hỏi han chân thành, đồ ng cảm vớ i cuôc̣ đờ i khó khăn, nghèo khổ, tù túng, quẩn quanh của chị. +. Thấ u hiểu nỗi khổ của bác Siêu. +. Cu ̣ Thi Điên tuy hơi sơ ̣ nhưng vẫn ân cầ n chu đáo, rót rươụ đầ y cho cu.̣ +. Đố i vớ i em: dành cho em những tình cảm yêu thương của ngườ i chị lớ n chăm sóc em rấ t ân cầ n chu đáo. Không phải vô tình tá c giả nhắ c tớ i quầ ng sá ng thân mật xung quanh ngọn đèn chị Tí. Quầ ng sá ng ấ y chính là tình ngườ i ấ m á p nơi đây tỏa ra, từ tâm hồ n Liên và những ngườ i nghèo khổ khá c. c). Biế t khao khá t một cuộc số ng có ý nghiã hơn - Thể hiêṇ ở ngay nỗi buồ n man mác trong tâm hồ n Liên trướ c giờ khắ c của ngày tàn. Liên buồ n thấ m thía trướ c cảnh chiề u quê đơn điêu.̣ Đó là nỗi buồ n của cái tôi có ý thứ c về cuôc̣ số ng, không khỏi nuố i tiế c về cuôc̣ số ng khi thờ i gian môṭ đi không trở lai.̣ - An dễ dàng chìm vào giấ c ngủ của tuổi thơ trong khi Liên thao thứ c chờ đơị môṭ chuyế n tàu đêm đi qua. Hình ảnh đoàn tàu chính là niề m mơ ướ c của chị em Liên về môṭ cuôc̣ số ng khác vớ i cuôc̣ số ng buồ n tẻ nơi đây. (phân tích cảnh chờ tà u). III. Kết thú c vấ n đề HĐT thưc̣ sư ̣ như môṭ bài thơ để laị cảm xúc vấ n vương, man mác trong lòng ngườ i đoc.̣ Trong hoàn cảnh 30 – 45 xã hôị đầ y rẫy những bấ t công, mâu thuẫn, ngòi bút Thacḥ Lam vẫn biế t nâng niu, trân trong̣ những vẻ đep̣ tinh tế trong tâm hồ n con ngườ i. Điề u đó chứ ng tỏ TL là môṭ tâm hồ n giàu yêu thương, giàu lòng nhân hâụ biế t bao vớ i cuôc̣ số ng vớ i con ngườ i. Chính điề u đó đã taọ nên giá trị lâu bề n và sứ c hấ p dẫn riêng biêṭ của những trang viế t TL. ĐỀ 8:Phân tích bứ c tranh phố huyêṇ trong truyêṇ ngắ n Hai đứ a trẻ. Từ đó nhâṇ xét về giá trị hiêṇ thưc̣ và nhân đao.̣ Gợi ý: I. Đăṭ vấ n đề TL là cây bút nhaỵ cảm, có khả năng khơi gơị những rung đông̣ mong manh, tinh tế . HĐT là môṭ truyêṇ ngắ n tiêu biểu cho phong cách nghê ̣thuâṭ đôc̣ đáo của TL. Tác phẩm đươc̣ in trong tâp̣ Nắ ng trong vườ n. Qua những rung cảm và dòng suy nghi ̃ miên man của cô bé Liên, tác giả đã thể hiêṇ niề m xót thương trướ c cuôc̣ số ng tù đong,̣ bế tắ c trong xã hôị cũ của ngườ i lao đông̣ và niề m khao khát của ho ̣về môṭ cuôc̣ số ng có ý nghiã hơn. Thể hiêṇ chủ đề này, TL đã miêu tả những cảnh đầ y ấ n tương̣ bằ ng viêc̣ ve ̃ lên bứ c tranh phố huyêṇ ám ảnh, day dứ t tâm hồ n mỗi ngườ i. II. Giải quyết vấ n đề 1. Khung cảnh thiên nhiên
- - Câu chuyêṇ mở ra bằ ng khung cảnh môṭ buổi chiề u tà gơị buồ n chiề u chiề u rồ i. Nhịp điêụ câu văn đề u đề u nhưng vẫn có môṭ chút thảng thố t nghe như môṭ tiế ng thở dài. - Buổi chiề u đươc̣ gơị ra trướ c hế t vớ i những chi tiế t thâṭ tinh tế : +. Tiế ng trố ng: từ ng tiế ng một vang ra để gọi buổi chiề u, nhịp trố ng châṃ rãi, thong thả như điểm vào nhịp bướ c đi củ a thờ i gian. +. Sắ c màu: phương Tây đỏ rực như lửa chá y, những đá m mây á nh hồ ng như hòn than sắ p tà n. Bứ c tranh có sắ c đỏ rưc̣ của măṭ trờ i nhưng không mang đế n cho ngườ i đoc̣ cảm giác ấ m áp mà chỉ là cảm giác vôị vã của cảnh ngày sắ p tắ t. +. Tiế ng ế ch nhái kêu ran ngoài đồ ng ruông,̣ tiế ng muỗi vo ve càng tô đâṃ hơn sư ̣ yên lăng,̣ vắ ng vẻ của môṭ phố huyêṇ trong cảnh chiề u tàn. 2. Bứ c tranh đời số ng - Đăc̣ biêṭ TL đã choṇ môṭ phiên chơ ̣ tàn để nói lên đươc̣ tấ t cả bô ̣măṭ của phố huyên:̣ +. Nói đế n chơ ̣ ngườ i ta thườ ng nghi ̃ ngay đế n môṭ nơi đông vui tấ p nâp.̣ Nó là nơi biểu hiêṇ sứ c số ng của môṭ làng quê, là nơi biểu hiêṇ thuầ n phong mi ̃ tuc.̣ TL đã khéo léo tả cảnh ngày phiên để nói hế t xơ xác, tiêu điề u của phố huyên.̣ +. Cảnh chơ:̣ ngườ i về hế t và tiế ng ồ n à o cũng mấ t; trên đấ t chỉ còn rá c rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, nhãn và lá mía. Măc̣ dù thế nhưng lũ trẻ vẫn cố bòn mót trong đám phế thái đó môṭ chút gì còn sót lai.̣ Ngày chơ ̣ phiên như thế thì sứ c số ng đã thưc̣ kém. Tấ t cả moị ngườ i đề u trông chờ vào nhau nhưng chỉ là sư ̣ quẩn quanh, vô vong,̣ trông chờ vào sư ̣ quẩn quanh, vô vong.̣ Mùi vị tỏa ra từ khung cảnh ấ y là mùi của rác rưở i, vỏ bưở i, vỏ thị môṭ mùi âm ẩm, ngai ngái. Đó là thứ mùi rấ t đăc̣ trưng để nói tớ i sư ̣ nghèo nàn. Nó đa ̃ góp phầ n làm khung cảnh thêm tàn lui,̣ héo úa. +. TL đã sử dung̣ thâṭ tài tình nghê ̣thuâṭ đố i lâp̣ giữa ánh sáng và bóng tố i: câu chuyêṇ mở ra trong lúc giao tranh giữa ánh sáng và bóng tố i. Á nh sáng nhaṭ dầ n: phương Tây đỏ rực , ánh ngày sắ p tàn rồ i bóng tố i xuấ t hiêṇ trên ngoṇ tre và cuố i cù ng bao trù m lên cả phố huyêṇ là cái bóng tố i mênh mông. Á nh sáng thu hep̣ phaṃ vi: như ánh sáng của ngôi sao xanh trên bầ u trờ i, ánh sáng yế u ớ t, ảm đaṃ loṭ qua khe cử a khép hờ , ánh sáng hắ t ra từ ngoṇ đèn của chị Tí tấ t cả đề u mờ nhat,ỵ ế u ớ t, không đủ soi tỏ. Bóng tố i thì chiế m linh̃ và bao phủ: đườ ng phố và các con ngõ chứ a đầ y bóng tố i, tố i hế t cả, tố i cả con đườ ng ra sông, con đườ ng qua chơ ̣ về nhà, thâṃ chí bóng tố i còn ngâp̣ dầ n đầ y trong đôi mắ t Liên á nh sá ng >< bóng tố i, thể hiện sự á m ảnh về cuộc số ng ngột ngạt, tù tú ng, không lố i thoá t. - Trên cái nề n ấ y, những cảnh đờ i, những con ngườ i – chứ ng nhân của cuôc̣ số ng nghèo nàn, đơn điêụ hiêṇ lên thâṭ ám ảnh. +. Điển hình cho những kiế p ngườ i đó là chị Tí vớ i nhịp số ng quẩn quanh. Ngày cho mò cua bắ t tép, tố i đế n chị mớ i doṇ hàng nướ c. Nhưng cái đáng sơ ̣ là dẫu biế t sớ m hay muộn có ăn thua gì chị vẫn don.̣ Đây không phải là cuộc số ng thật sự mà sự cầ m chừ ng giao tranh vớ i sự số ng. Ngay cả cách trả lờ i Liên “ Ôi chao! gì” cũng góp phầ n cho ta thấ y cuôc̣ số ng tẻ nhat,̣ quẩn quanh của nhân vât.̣
- +. Bà cụ Thi điên: chỉ đủ tiền mua một cút rượu uống một hơi cạn sạch. Đó là một hình ảnh đầy sức ám ảnh với dáng đi lảo đảo và tiếng cười khanh khách tan vào trong bóng đêm. Phải chăng đó chính là sản phẩm của một cuộc sống mòn mỏi, quẩn quanh. Người điên, người thì còn đó nhưng đời đã tàn quá nửa. +. Bác Siêu- với gánh phở của mình hi vọng sẽ kiếm được chút gì để tồn tại, để cầm cự với sư sống. Nhưng ở nơi phố huyện nghèo này, Phở trở thành một thứ quà xa xỉ, vì vậy nguy cơ ế hàng càng cao. +. Gia đình bác Xẩm: dùng lời ca tiếng hát của mình để kiếm sống. Nhưng ở nơi cái ăn còn chẳng có thì người dân nghèo làm gì có thời gian để thưởng thức âm nhạc. Vì vậy, cái nghèo, cái đói luôn rình rập gia đình bác. + Tiề n cảnh bứ c tranh đờ i buồ n thảm, héo tàn là bóng hai chị em Liên cũng âm thầ m không kém vớ i cái cửa hà ng tạp hóa nhỏ xíu, khách hàng là những con ngườ i khố n khổ không đủ tiề n mua lấ y nử a bánh xà phòng. Liên thương cho những kiế p ngườ i lay lắ t nhưng bản thân cuôc̣ số ng của Liên cũng không tránh khỏi cuôc̣ số ng nghèo nàn đơn điêu.̣ Trong nỗi buồ n chung của moị ngườ i, bi kịch của Liên là ý thứ c đươc̣ nỗi buồ n và sư ̣ đơn điề u, bủa vây. +. Chi tiế t ấ n tương̣ nhấ t là cảnh đoàn tàu: đó là hoạt động cuố i cù ng của đêm khuya. (phân tích hình ảnh đoà n tà u) khá t vọng về sự đổi thay trong xã hội. 3. Giá trị hiện thực và nhân đạo a). Hiện thực - Bứ c tranh phố huyêṇ là hình ảnh khái quát đầ y đủ cái tăm tố i, châṭ hep̣ của xã hôị Viêṭ Nam trướ c cách mang̣ tháng Tám. Thân phâṇ con ngườ i ở đây thâṭ nhỏ bé, đáng thương. b). Nhân đạo - Cảm xúc xót thương của tác giả cho những cảnh đờ i phải số ng không ra sư ̣ số ng. - Thứ c dâỵ ở con ngườ i những khát vong̣ về môṭ cuôc̣ số ng tố t đep̣ hơn, khác vớ i cuôc̣ số ng tù đong̣ tố i tăm, bế tắ c của ho:̣ hình ảnh đoàn tàu. Đặt trong hoà n cảnh xã hội VN 30-45, khá t vọng mà TL hướ ng tớ i chính là sự thứ c tỉnh của ý thứ c cá nhân sâu sắ c. Đây chính là giá trị nhân bản có chiề u sâu, gặp gỡ vớ i khát vọng số ng của Xuân Diệu: “Thà một phú t huy hoà ng rồ i chợt tắ t/Còn hơn buồ n le lói suố t trăm năm”, gặp gỡ vớ i khá t vọng xây dựng được một sự nghiệp có ích cho mình và cho xã hội trong những tá c phẩm của Nam Cao. III. Kết thúc vấ n đề - HĐT là môṭ bài thơ trữ tình đầ y xót thương. Tác phẩm thể hiêṇ đâṃ chấ t phong cách TL. - Vớ i giá trị hiêṇ thưc̣ và nhân đaọ sâu sắ c, tác phẩm TL se ̃ còn số ng mãi trong lòng ngườ i đoc̣ ĐỀ 9:Phân tích những đặc sắ c nghệ thuật của truyện ngắ n Hai đứ a trẻ để thấ y ro ̃ phong cá ch riêng, độc đá o củ a nhà văn TL. I. Đăṭ vấ n đề
- - Giớ i thiêụ nhà văn TL- môṭ phong cách riêng đôc̣ đáo. - HĐT là truyêṇ ngắ n hay, tiêu biểu cho phong cách văn chương TL. - Câu chuyêṇ dưng̣ lên bứ c tranh hiêṇ thưc̣ về xã hôị Viêṭ Nam trướ c cách mang̣ vớ i những số phâṇ nhỏ bé, đáng thương của những kiế p ngườ i và niề m khát khao đổi thay của ho.̣ - Sứ c hấ p dẫn của truyêṇ chính ở giá trị nghê ̣thuâṭ đôc̣ đáo. II. Giải quyết vấ n đề 1. Cá ch dựng truyện - Đây là loaị truyêṇ tâm tình, truyêṇ không có truyên,̣ không khai thác mâu thuẫn căng thẳng dồ n nén, tích tu ̣mà đi sâu vào những chi tiế t bình dị, đờ i thườ ng. +. Thờ i gian ngắ n: môṭ khoảnh khắ c chiề u tà và vào đêm. +. Không gian nhỏ hep:̣ môṭ góc phố huyêṇ nghèo nàn, hẻo lánh. +. Thế giớ i nhân vâṭ ít. - Chi tiế t đơn giản không có gì: cả truyêṇ chỉ là những tâm tư, cảm xúc của những đứ a trẻ nghèo taọ nên những ám ảnh, day dứ t về cuôc̣ số ng nghèo nàn đơn điêụ của xã hôị Viêṭ Nam trướ c cách mang̣ trong đó số phâṇ con ngườ i nhỏ bé, đáng thương. +. Cái đơn điêu,̣ tẻ nhaṭ của cuôc̣ số ng ấ y đươc̣ cảm nhâṇ qua bứ c tranh thiên nhiên Cảnh chiề u: buồ n tà n lụi (phân tích) +. Cảm giác tiêu điề u về cuôc̣ số ng: chợ tà n (phân tích). +. Hình ảnh con ngườ i nơi đây: tác giả không miêu tả nhiề u chỉ cầ n môṭ vài phiế n ảnh nhưng cũng đủ làm nổi bâṭ hình ảnh những kiế p ngườ i lay lắ t, nhỏ bé, đang phải số ng cuôc̣ số ng buồ n tẻ, đáng thương: Chị Tí Bác Siêu Bác Xẩm Bà cu ̣Thi điên Tiề n cảnh là chị em Liên Văn TL không cầ n những mâu thuẫn gay gắ t, nóng bỏng, không khiế n cho lò ng ngườ i phải uấ t ứ c, căn hờ n. Văn TL chỉ cầ n những chi tiế t, hình ảnh bình dị, chân thực nhưng gợi lên nỗi xót thương về cuộc số ng không lố i thoá t, về những kiế p ngườ i nhỏ bé, đá ng thương. 2. Thủ phá p tương phản: á nh sá ng và bóng tố i - Câu chuyêṇ mở ra trong lúc giao tranh giữa ánh sáng và bóng tố i: +. Á nh sáng nhaṭ dầ n, yế u ớ t không đủ soi tỏ cuôc̣ số ng xung quanh. +. Bóng tố i dầ n chiế m linh,̃ bao phủ toàn tác phẩm. tạo nên nỗi á m ảnh về một cuộc số ng tố i tăm, tù đọng. Con ngườ i thật nhỏ bé trướ c vũ trụ. - Trong bóng tố i, ánh sáng rưc̣ rỡ của đoàn tàu thưc̣ sư ̣ có ý nghiã (phân tích). Nó đã đánh thứ c tâm hồ n con ngườ i: khao khá t một sự đổi thay, khao khá t về một cuộc số ng khá c có ý nghiã hơn. Bó ng tố i tương phản vớ i á nh sá ng chính là một thà nh công độc đá o của tá c phẩm. Nó góp phầ n thể hiện chủ đề của thiên truyện. 3. Khả năng miêu tả những rung động mong manh, tinh tế trong tâm hồn con người
- - Cảm giác mong manh mơ hồ như cánh bướ m non, xú c cảm trong sáng tinh tế trong tâm hồ n con ngườ i: diễn biế n tâm trạng của Liên. - Trong buổi chiề u quê buồ n thấ m thía, Liên cảm nhâṇ đươc̣ từ ng bướ c đi của thờ i gian. Cái lăng̣ le,̃ man mác của buổi chiề u quê như thấ m vào tâm hồ n ngây thơ của chị: +. Tiế ng trố ng nhịp thờ i gian trôi chảy. +. Tiế ng ế ch nhái cảm giá c thân thuộc vớ i cảnh đồ ng quê. +. Mùi vị đấ t cát quê hương mù i riêng. Chỉ bằ ng và i nét chân thực đã khơi gợi được cảm giá c thân quen của con ngườ i Việt. TL đã miêu tả diễn biế n tâm trạng hế t sứ c tinh tế tạo sứ c gợi trong lòng ngườ i đọc. - Giữa cái mênh mông, yên lăng̣ của quê hương Liên thả tâm hồ n mình mơ tưở ng tớ i vũ tru ̣xa xanh vớ i bầ u trờ i đêm huyề n bí đưa Liên trở về vớ i quá vãng chưa xa thâṭ êm đề m. Đó là giây phút lòng ngườ i neo đâụ những cảm xúc thâṭ yên tinh.̃ +. Xúc cảm của Liên hướ ng tớ i viêc̣ chờ đơị đoàn tàu. Những trang viế t miêu tả tâm trang̣ thâṭ tinh tế (phân tích ngắ n gọn tâm trạng Liên chờ tà u). Hấ p dẫn trong những trang văn của TL là ở khả năng khơi gợi những rung động tinh tế như thế trong tâm hồ n con ngườ i. Tá c phẩm của TL đậm đà tình cảm và rấ t già u chấ t thơ, không phải ai cũng dễ dà ng có được những trang văn tinh tế như thế nế u không xuấ t phá t từ tấ m lòng nhân hậu vớ i cuộc số ng, vớ i con ngườ i. 4. Văn TL đẹp như thơ: ngữ điệu nhỏ nhẹ, thủ thỉ, câu văn giàu hình ảnh, nhạc điệu ru hồn người tạo nên những xú c cảm tinh tế mà trong sá ng - Quên làm sao đươc̣ những trang văn miêu tả chiề u quê đep̣ thế . Nhịp điêụ châṃ rãi, êm ả, taọ ấ n tương̣ mơ hồ về môṭ quá vãng. Điề u đó thể hiêṇ tâm hồ n gắ n bó rấ t sâu vớ i quê hương, vớ i ruông̣ đồ ng. Nó đã gióng lên trong tâm hồ n con ngườ i môṭ nỗi niề m tha thiế t “Chừ ng ấ y con ngườ i trong bóng tố i của họ”. - Văn đep̣ như thơ góp phầ n thanh loc̣ tâm hồ n con ngườ i, khiế n cho những rung đông̣ mơ hồ trở nên thấ m thía hơn. III. Kết thú c vấ n đề Hai đứ a trẻ là môṭ truyêṇ ngắ n tiêu biểu cho phong cách nghê ̣thuâṭ của TL. Đó là môṭ bài thơ trữ tình xót xa. Vớ i những gì mà TL đã thể hiên,̣ HĐT se ̃ số ng mãi trong lòng ngườ i đoc,̣ giúp chúng ta biế t nâng niu quiý trong cái đep,̣ dù nhỏ nhoi ở xung quanh ta, làm tâm hồ n ta trong sáng hơn.

